- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xây dựng — án kinh doanh thương mại — "Tân Thành Đ - Kim N: Tranh chấp tiền thanh toán vượt quá"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn - Công ty Cổ ph n đ u tư xây dựng và thương mại K N.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Thương mại; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH K T | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2022/KDTM-PT Ngày: 23/9/2022 V/v “Yêu cầu hoàn trả toàn bộ tiền thanh toán vượt quá phát sinh trong hợp đồng giao khoán” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Nguyên
Các Thẩm phán:
Ông Vũ Văn Thuấn
Bà Dương Thị Vân.
- Thư ký phiên toà: Bà Tr n Thị Tuy t – Thư ký Tòa án nhân dân t nh K T.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thanh Thủy – Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân t nh K T, xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại phúc thẩm thụ lý số 01/2022/TLPT-KDTM ngày 07/7/2022 về việc “Yêu cầu hoàn trả toàn bộ tiền thanh toán vượt quá phát sinh trong hợp đồng giao khoán”
Do bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2022/KDTM-ST ngày 27/5/2022 của Tòa án nhân dân thành phố K T, t nh K T bị kháng cáo.
Theo Quy t định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 25/2022/QĐ-PT ngày 11 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân t nh K T giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty Cổ ph n Tập đoàn TTĐ I; Địa ch : Số 102 TT phường T L, quận Đ Đ, Thành phố Hà Nội.
Theo văn bản ủy quyền ngày 01/6/2021 (bút lục 116), người đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ ph n Tập đoàn TTĐ I ch ủy quyền cho các ông bà Lê Văn H, Dương Đức T, Nguyễn Thị Ngọc L tham gia tố tụng tại cấp sơ thẩm.
Tại cấp phúc thẩm, người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Ti n Nhân V ủy quyền cho: ông Lê Văn H, ông Đỗ Ngọc L1, Bà Nguyễn Thị Ngọc L tham gia tố tụng. (Theo văn bản ủy quyền đề ngày 04/8/2022). Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Công ty Cổ ph n Đ u tư xây dựng và thương mại K N; Địa ch : Số 236 Bắc Kạn, phường Thắng Lợi, thành phố K T, t nh K T.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Sơn Tr; Chức vụ: Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Minh T, địa ch :157 P C T, thành phố K T, t nh K T. Có mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Chi cục Thu thành phố K T, t nh K T; Địa ch : Số 72 B T, thành phố K T, t nh K T. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
2/ Chi cục Thu quận Đ Đ, Thành phố Hà Nội; Địa ch : Số 185 Đ T Đ, quận Đ Đ, Thành phố Hà Nội. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 02/6/2021, bản tự khai đề ngày 02/8/2021, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 24/11/2015, Công ty Cổ ph n Tập đoàn TTĐ I và Công ty Cổ ph n Đ u tư xây dựng và thương mại K N đã ký k t Hợp đồng giao khoán về việc nhận thi công ph n san nền thuộc “Gói thầu số 13 – Xây dựng” thuộc dự án: “Đầu tư xây dựng Trung tâm Quốc gia nghiên cứu và phát triển Sâm Ngọc Linh”. Giá trị hợp đồng hai bên thống nhất theo Biên bản thanh lý hợp đồng ngày 14/4/2016 là 1.267.800.000 đồng, trên cơ sở Công ty K N đã thực hiện xong gói th u nêu trên, Công ty TTĐ đã thanh toán cho Công ty K N 04 l n tiền, với tổng số tiền là 1.200.000.000 đồng. Hai bên không xảy ra tranh chấp.
Ngày 25/6/2018, Đoàn Thanh tra Chính phủ cùng Chủ đ u tư (Ban quản lý dự án) và Công ty TTĐ đã ti n hành xác minh, nghiệm thu lại các ph n mục đã thi công thuộc Dự án nêu trên. Theo đó, khối lượng mà công ty K N đã thi công theo Biên bản thanh lý hợp đồng ngày 14/4/2016 không đúng so với thực t . Căn cứ bản vẽ mặt bằng hiện trạng san nền lô A; Căn cứ bản vẽ mặt bằng san nền lô A.
Theo bản vẽ mặt bằng san nền ký hiệu MB-SN-02 và bản vẽ mặt bằng tính toán san nền lô A ký hiệu MB-SN-04 được duyệt tại điểm I7 có cao độ mặt bằng hiện trạng san nền bị sai là 449.54 trong khi cao độ san nền theo thi t k là 624.70 là chưa phù hợp với thực t (chiều sâu san lấp là 175.16m và đã được kiểm toán nhà nước ch ra sai sót). Do đó, dẫn đ n khối lượng các ô san nền tại vị trí H6, H7, I6, I7 bị sai so với thực t . K t luận: Giá trị quy t toán A-B giữa Công ty TTĐ I và Công ty K N là: 649.202.000 đồng. Giá trị giảm trừ theo quy t toán A-B cũ (sai) là: 1.200.000.000 – 649.202.000 đồng = 550.798.000 đồng, đây là số tiền mà Công ty TTĐ đã chuyển dư cho Công ty K N.
Nay nguyên đơn khởi kiện yêu c u Tòa án buộc Công ty Cổ ph n Đ u tư xây dựng và thương mại K N hoàn trả số tiền đã thanh toán vượt quá khối lượng thi công thực t là 550.798.000 đồng; Buộc Công ty Cổ ph n Đ u tư xây dựng và thương mại K N thanh toán tiền lãi suất phát sinh bằng 150% lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước, kể từ ngày 18/7/2019 (thời điểm Công ty TTĐ yêu c u hoàn trả l n đ u tiên) cho đ n khi Công ty K N hoàn trả toàn bộ tiền thanh toán vượt quá; Yêu c u cơ quan thi hành án ti n hành kê biên, phát mại tài sản thuộc quyền sử dụng, sở hữu của Công ty K N để thu hồi tiền.
Tại bản trình bày ý ki n đề ngày 16/11/2021 và tại phiên tòa, phía nguyên đơn xin rút một ph n yêu c u khởi kiện, không yêu c u giải quy t về ph n lãi suất phát sinh do chậm trả (kể từ ngày 18/7/2019 đ n ngày xét xử) và yêu c u cơ quan thi hành án ti n hành kê biên, phát mại tài sản thuộc quyền sử dụng, sở hữu của Công ty K N để thu hồi tiền. Yêu c u phía bị đơn hoàn trả số tiền 550.798.000 đồng do thanh toán vượt quá trong hợp đồng giao khoán; yêu c u tính lãi chậm trả theo quy định của pháp luật. Về án phí KDTM yêu c u giải quy t theo pháp luật.
Tại bản tự khai đề ngày 08/9/2021, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng và thương mại K N trình bày.
Không chấp nhận toàn bộ yêu c u khởi kiện của nguyên đơn. Lý do: Giữa nguyên đơn và bị đơn có ký với nhau Hợp đồng giao khoán số 72/2015/HĐGK-KH ngày 24 tháng 11 năm 2015. Hai bên đã thực hiện xong hợp đồng. Ngày 14/4/2016, hai bên đã ký biên bản thanh lý hợp đồng, thanh toán và Công ty K N đã xuất hóa đơn giá trị gia tăng, hai bên không có tranh chấp hợp đồng. Sau khi có k t luận thanh tra, bị đơn đề nghị phía nguyên đơn cùng phối hợp để xác định lại khối lượng thi công nhưng phía nguyên đơn không hợp tác. Do tình hình dịch bệnh Covid-19 nên cán bộ kỹ thuật của Công ty K N tạm ngh , nên chưa thể tính toán cụ thể để khai báo từng hạng mục rõ ràng với Tòa án. Phía bị đơn sẽ củng cố hồ sơ tài liệu nộp cho Tòa án trong thời gian sớm nhất. Tại phiên tòa phía bị đơn không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì. Yêu c u xem xét số tiền đã nộp thu trên số tiền mà nguyên đơn khởi kiện để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên khi có bản án của Tòa án. Về án phí KDTM bị đơn không chịu.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chi cục thu quận Đ Đ thành phố Hà Nội và Chi cục thu thành phố K T trình bày: Công ty Cổ ph n Tập đoàn TTĐ I và Công ty K N đã hoàn tất các nghĩa vụ về thu theo pháp luật.
Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 01/2022/KDTM-ST ngày 27/5/2022 của Tòa án nhân dân thành phố K T, t nh K T quy t định:
Căn cứ Điều 5, khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 227, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 124, 130 và 131, 280, 281 và Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Xử:
- Chấp nhận yêu c u đơn khởi kiện về việc "Yêu cầu hoàn trả toàn bộ tiền thanh toán vượt quá phát sinh trong hợp đồng giao khoán” của nguyên đơn Công ty Cổ ph n Tập đoàn TTĐ I, đơn đề ngày 02/6/2021.
Buộc: Công ty Cổ ph n đ u tư xây dựng và thương mại K N phải trả cho Công ty Cổ ph n Tập đoàn TTĐ I số tiền là 550.798.000 đồng (Năm trăm năm mươi triệu, bảy trăm chín mươi tám nghìn đồng).
Ngoài ra bản án còn tuyên lãi chậm trả, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 11/6/2022 bị đơn - Công ty Cổ ph n đ u tư xây dựng và thương mại K N kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị sửa bản án sơ thẩm, lý do: việc khởi kiện của TTĐ đã h t thời hiệu khởi kiện; Biên bản kiểm tra xác minh ngày 25/6/2018 của Đoàn Thanh tra không phải là chứng cứ; Tòa án không ti n hành được việc công khai chứng cứ và hòa giải vì nguyên đơn vắng mặt, VKS đề nghị triệu tập người liên quan nhưng Tòa án không triệu tập và cũng không nêu lý do là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; Tòa án nhận định Hợp đồng giao khoán số 72/2015/HĐGK-KH vô hiệu do giả tạo là thi u cơ sở. Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo và bổ sung thêm lý do kháng cáo: Tòa án không triệu tập chủ đ u tư dự án tham gia tố tụng là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Tại bản trình bày ý ki n đề ngày 30/8/2022, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh K T phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà: đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với những người tham gia tố tụng: các đương sự đã chấp hành đ y đủ các quy định của pháp luật.
Về quan điểm giải quy t vụ án: về thẩm quyền, tư cách tố tụng, thời hiệu khởi kiện Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Cấp sơ thẩm có một số vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng như sau:
- Không đưa chủ đ u tư là Trung tâm ươm tạo và hỗ trợ doanh nghiệp (Ban quản lý dự án) trực thuộc Cục phát triển thị trường và doanh nghiệp, Bộ khoa học và Công nghệ là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng.
- Biên bản kiểm tra xác minh ngày 25/6/2018 của Thanh tra Chính phủ k t luận giá trị hợp đồng do Chủ đ u tư là Trung tâm ươm tạo và hỗ trợ doanh nghiệp và Công ty Cổ ph n Tập đoàn TTĐ I giảm 4.803.500.000 đồng do sai khối lượng và đơn giá (bao gồm nhiều hạng mục). Mặt khác ngoài bản tự tính toán của Công ty Cổ ph n Tập đoàn TTĐ I thì không có tài liệu, chứng cứ nào xác định số tiền thanh toán vượt quá phát sinh trong hợp đồng đối với hạng mục san nền của gói th u xây dựng số 13. Hơn nữa biên bản kiểm tra xác minh thành ph n làm việc ch có đoàn thanh tra Chính phủ, Chủ đ u tư và Công ty Cổ ph n Tập đoàn TTĐ. Do đó, cấp sơ thẩm tuyên bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền vượt quá 550.798.000 đồng là chưa có cơ sở.
Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 đề nghị Hội đồng xét xử huỷ bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Toà án cấp sơ thẩm giải quy t lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và bản trình bày giữ nguyên yêu c u khởi kiện, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bị đơn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.
Xét nội dung đơn kháng cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Quá trình giải quy t vụ án nguyên đơn cung cấp biên bản xác minh và K t luận thanh tra Chính phủ để yêu c u bị đơn thanh toán số tiền vượt quá 550.798.000 đồng. Tuy nhiên, các tài liệu này ch nêu ra gói th u số 13 có sai khối lượng, mà gói th u này gồm nhiều hạng mục (11 hạng mục), không ch rõ hạng mục san nền lô A sai khối lượng. Mặt khác, K t luận thanh tra yêu c u chủ đ u tư giải trình, tuy nhiên, cấp sơ thẩm không thu thập chứng cứ về việc chủ đ u tư giải trình như th nào về việc này. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm ch căn cứ vào bản tự khai của nguyên đơn về việc tự tính toán số liệu, khối lượng yêu c u hoàn trả lại tiền mà không yêu c u nguyên đơn cung cấp: Bảng vẽ thi t k kèm theo hợp đồng giao khoán số 72/2015, bảng vẽ mặt bằng san nền ký hiệu MB-SN-02 và bản vẽ mặt bằng tính toán san nền lô A ký hiệu MB-SN-04, bảng vẽ kèm theo hợp đồng thi công giữa chủ đ u tư dự án và TTĐ; Chưa ti n hành xem xét thẩm định tại chỗ để xác định khối lượng K N thi công sai. Do đó, chưa có căn cứ để tính lại số tiền thanh toán theo hợp đồng, như nguyên đơn yêu c u. Như vậy, cấp sơ thẩm chưa thu thập đ y đủ chứng cứ mà chấp nhận đơn khởi kiện là chủ quan. Tại cấp phúc thẩm không thu thập bổ sung được.
[3] Cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng:
Không đưa chủ đ u tư vào tham gia tố tụng:
Cấp sơ thẩm không đưa chủ đ u tư dự án Đ u tư xây dựng Trung tâm quốc gia nghiên cứu và phát triển Sâm Ngọc Linh là: Trung tâm ươm tạo và hỗ trợ doanh nghiệp K hoạch và Công nghệ (sau đây gọi là: Chủ đ u tư) vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền và nghĩa vụ liên quan là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Bởi lẽ: Theo Biên bản kiểm tra xác minh ngày 25/6/2018 và K t luận thanh tra số 2086/KL-TTCP ngày 28/11/2018 của Thanh tra Chính phủ, tại trang 5 (bút lục số 357) có ghi “Tư vấn lập dự toán còn thiếu chính xác, sai khối lượng hoặc áp dụng đơn giá, mã hiệu định mức không đúng…,làm tăng giá gói thầu….(dự án Sâm Ngọc Linh: gói thầu số 13 là 4.803,5 triệu đồng)… Trong quá trình thực hiện, Chủ đầu tư dự án Sâm Ngọc Linh đã chủ động rà soát giảm trừ khối lượng tính thừa”. Trang 19 của K t luận thanh tra số 2086/KL-TTCP (bút lục số 350) yêu c u Bộ KH&CN ch đạo chủ đ u tư các dự án “loại khỏi giá trị thanh toán, quyết toán công trình số tiền 5.648,200 triệu đồng” (trong đó đối với dự án Đ u tư xây dựng Trung tâm quốc gia nghiên cứu và phát triển Sâm Ngọc Linh là 4.803,500 triệu đồng, thể hiện tại phụ lục 6 kèm theo K t luận, (bút lục số 343)). Như vậy, theo K t luận thanh tra thì Chủ đ u tư là Trung tâm ươm tạo và hỗ trợ doanh nghiệp K hoạch và Công nghệ phải thu hồi số tiền sai phạm. Gói th u số 13 bao gồm nhiều hạng mục, Trung tâm ươm tạo và hỗ trợ doanh nghiệp K hoạch và Công nghệ (Chủ đ u tư) đã ký hợp đồng thi công xây dựng với Công ty TTĐ (phụ lục Hợp đồng thi công ngày 10/11/2017, BL 246). Sau đó Công ty TTĐ (bên B’) ký hợp đồng giao khoán số 72/2015 với Công ty Cổ ph n đ u tư xây dựng và thương mại K N để giao lại ph n thi công hạng mục San nền lô A (BL 41). Số tiền công ty TTĐ khởi kiện yêu c u K N thanh toán lại, có liên quan đ n Chủ đ u tư. Cấp sơ thẩm không đưa Chủ đ u tư vào tham gia tố tụng, không yêu c u trình bày ý ki n về số tiền khởi kiện của TTĐ là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, ảnh hưởng đ n quyền và lợi ích hợp pháp của Chủ đ u tư.
Cấp sơ thẩm còn có một số thi u sót khác:
- Nguyên đơn khởi kiện yêu c u hoàn trả số tiền đã thanh toán vượt quá khối lượng thi công thực t . Cấp sơ thẩm xác định hợp đồng vô hiệu một ph n, yêu c u các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận đối với ph n vô hiệu là xác định không đúng nội dung khởi kiện. Hơn nữa, Cấp sơ thẩm nhận định Hợp đồng giao khoán số 72/2015/HĐGK-KH vô hiệu do giả tạo là không có cơ sở. Vì: Hợp đồng giao khoán số 72/2015/HĐGK-KH: chủ thể giao k t hợp đồng có năng lực hành vi dân sự, hoàn toàn tự nguyện, mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, hình thức và nội dung hợp đồng bảo đảm quy định tại Điều 138 Luật Xây dựng. Hợp đồng giao khoán số 72/2015/HĐGK-KH có hiệu lực pháp luật theo Điều 122 BLDS năm 2005 và Điều 139 Luật Xây dựng. Các bên đã thực hiện xong hợp đồng, không ai tranh chấp gì về hợp đồng.
- Quá trình giải quy t vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn rút một ph n yêu c u khởi kiện đối với tiền lãi, cấp sơ thẩm không đình ch xét xử đối với nội dung này là thi u sót, theo quy định tại Điều 244 BLTTDS năm 2015.
- Cấp sơ thẩm nhận định áp dụng Bộ luật dân sự năm 2005 để giải quy t tranh chấp trong vụ án là đúng. Tuy nhiên, ph n Quy t định của bản án lại áp dụng BLDS năm 2015 là sai. Cấp sơ thẩm không áp dụng Luật Thương mại để giải quy t vụ án là chưa đ y đủ.
Do cấp sơ thẩm đã có những vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng ảnh hưởng đ n quyền và lợi ích hợp pháp của Chủ đ u tư là: Trung tâm ươm tạo và hỗ trợ doanh nghiệp K hoạch và Công nghệ; việc thu thập và đánh giá chứng cứ chưa đ y đủ mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được. Do đó, c n chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn, hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quy t lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Về án phí:
Do bản án số 01/2022/KDTM-ST ngày 27/5/2022 của Tòa án nhân dân thành phố K T bị hủy, nên Công ty Cổ ph n đ u tư xây dựng và thương mại K N không phải nộp tiền án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm. Nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm được xác định lại khi vụ án được giải quy t theo thủ tục sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015:
Chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn - Công ty Cổ ph n đ u tư xây dựng và thương mại K N.
Hủy bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2022/KDTM-ST ngày 27/5/2022 của Tòa án nhân dân thành phố K T, t nh K T, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố K T giải quy t lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
- Về án phí: Căn cứ Điều 144, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 6, Điều 18, Điều 19, khoản 1 Điều 24, khoản 3 Điều 29 Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Hoàn trả cho Công ty Cổ ph n đ u tư xây dựng và thương mại K N số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) tạm ứng án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm đã nộp theo Biên lai tạm ứng án phí số 0000908 ngày 16/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố K T.
Nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm được xác định lại khi vụ án được giải quy t theo thủ tục sơ thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án (23/9/2022)
| Nơi nhận: - TAND cấp cao Đà Nẵng; - VKSND t nh K T. - TAND tp K T ; - Cục THADS t nh K T, Chi cục THADS tp K T ; - NTGTT; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Dương Thị Vân Vũ Văn Thuấn - | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Nguyên THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Nguyên |