vanban.org

Bản án 02/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La Tuyên án 16/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Cứ A P phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Xử phạt bị cáo Cứ A P12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/8/2022. Không phạt bổ sung – phạt tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cứ A P - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Q

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 02/2022/HSST
Ngày 16/11/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bàn Văn Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lừ Văn Hùng

2. Ông Lường Văn Phúc

Thư ký Toà án: Bà Lò Thị Thu Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Q, tỉnh Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà:

Ông Vừ Bả Ly - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Sơn La, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2022/TLST - HS ngày 06 tháng 10 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2022/QĐXXST - HS ngày 04 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo.

Họ và tên: Cứ A P, tên gọi khác: Không; sinh năm 1969; Tại xã L, huyện M, tỉnh Yên Bái; Nơi cư trú: Bản C, xã C, huyện Q, tỉnh Sơn La: Nghề nghiệp: Trồng trọt: Trình độ học vấn: Không biết chữ; Đảng phái đoàn thể: Không; Dân tộc: Mông; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo; Không; Con ông: Cứ A N và bà Giàng Thị P (đều đã chết); Có vợ Vàng Thị N và có 09 con, con lớn nhất 32 tuổi, con nhỏ nhất 06 tuổi; Đều cư trú tại Bản C, xã C, huyện Q, tỉnh Sơn La.

Tiền án: Tiền sự: Không. Bị cáo có nhân thân tốt; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/8/2022 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

Người phiên dịch tiếng Mông: Ông Thào A Chu; trú tại bản P, xã M, huyện Q, tỉnh Sơn La; Có mặt

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo Cứ A P: Luật sư ông Đàm Mạnh Hùng - Thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Sơn La; Cộng tác viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 04/8/2022 Cứ A P có hành vi tàng trữ trái phép 3, 71 gam Thuốc phiện nhằm mục đích sử dụng, thì bị bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ: Gồm chất cục bột màu nâu đen được đựng trong 01 túi nilon màu trắng nghi là ma túy.

Ngày 05/8/2022 Cơ quan điều tra Công an huyện Q, tỉnh Sơn La phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành xét nghiệm ma túy đối với Cứ A P, kết quả: Cứ A P âm tính với chất ma túy.

Ngày 05/8/2022 Cơ quan điều tra Công an huyện Q thành lập Hội đồng bóc mở, niêm phong, cân tịnh, xác định khối lượng số chất cục, bột màu trắng nghi là ma túy thu giữ của Cứ A P có tổng khối lượng là 3, 71 gam, lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định ký hiệu A1.

- Tại bản kết luận giám định số: 1341/ KL – KTHS ngày 07/8/2022 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận “Mẫu gửi giám định ký hiệu A1 là ma túy, loại Thuốc phiện; khối lượng của mẫu gửi giám định là 3, 71gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 3, 71 gam; loại Thuốc phiện”. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 01/8/2022 Cứ A P đi xe buýt từ trung tâm xã C, huyện Q đến ngã Ba C, xã T, huyện T thì xuống xe và bắt xe khách đến bản N, xã C, huyện M, tỉnh Điện Biên để đám ma của người nhà và ở lại đó đến khoảng 17 giờ 00 phút ngày 03/8/2022 P đi bộ từ bản N, xã C, huyện M ra trung tâm huyện M. Trên đường đi P gặp một người đàn ông không quen biết mặc quần áo dân tộc Mông đi ngược chiều với P, P đến hỏi mua ma túy (thuốc phiện). Qua trao đổi P mua được 01 gói thuốc phiện được đựng trong túi nilon màu trắng với giá 100.000đ. Mua được ma túy P cất vào túi áo bên trái đang mặc rồi bắt xe ôm về trung tân huyện M, tỉnh Điện Biên. Đến 22 giờ 00 phút cùng ngày P đi xe khách từ trung tâm huyện M, tỉnh Điện Biên về bến xe khách Thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La sau đó bắt xe buýt về trung tâm xã C, huyện Q, tỉnh Sơn La và đi bộ về nhà. Trên đường về thì Pháy bị Công an huyện Q, tỉnh Sơn La phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng nêu trên.

Tại bản cáo trạng số: 51/CT - VKS - QN ngày 04/10/2022 của Viện kiểm sát nhân huyện Q, tỉnh Sơn La đã truy tố Cứ A Pháy về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm b khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà Kiểm sát viên phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quyết định như cáo trạng truy tố đối với bị cáo tố Cứ A P và Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo tố Cứ A P phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy; Đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt bị cáo tố Cứ A P 14 (Mười bốn) đến 16 (Mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/8/2022.

Không phạt bổ sung – phạt tiền đối với bị cáo.

Vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đề nghị tuyên tiêu hủy: 01 phong bì công văn của Công an huyện Q được niêm phong dán kín; Mặt trước phong bì có ghi; 01 túi nilon màu trắng + 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở. Mặt sau tại mép dán giáp lai phong bì được dán đè giấy niêm phong số 005391 của Công an tỉnh Sơn La.

Bị cáo Cứ A P không phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo Cứ A P tại phiên toà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nhân thân của bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, là dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu, vùng xa, không có trình độ văn hóa, hiểu biết pháp luật thì hạn chế và điều kiện, hoàn cảnh dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo để áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ như nêu trên. Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự (12 tháng tù giam) cũng đủ để răn đe phòng ngừa chung đối với bị cáo. Tạo cơ hội cho bị cáo cải tạo tốt, sớm trở về đoàn tụ với gia đình, xã hội. Miễn phạt tiền đối với bị cáo. Một lần nữa, Luật sư bảo vệ quyền lợi cho bị cáo Cứ A P đề nghị HĐXX xem xét đầy đủ khách quan, toàn diện các tình tiết, về nguyên nhân, điều kiện, mức độ về hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, về nhân thân của bị cáo, cho bị cáo Cứ A P được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật.

Bị cáo nhất trí với quan điểm bào chữa của Luật sư bảo vệ quyền lợi cho bị cáo và không có ý kiến gì bổ sung gì thêm.

Tại phiên tòa bị cáo Cứ A P khai nhận, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, tỉnh Sơn La đã truy tố đối với bị cáo về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm b khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự được Kiểm sát viên công bố tại phiên tòa phù hợp với bản cáo trạng bị cáo đã nhận do Kiểm sát viên đã tống đạt cho bị cáo. Do hành vi của bị cáo đã rõ rằng, nên bị cáo Cứ A P không có ý kiến gì tranh luận với Kiểm sát viên tại phiên tòa.

C¨n cø vµo c¸c chøng cø vµ tµi liÖu có trong hồ sơ, ®· ® îc thÈm tra t¹i phiªn toµ; C¨n cø vµo kÕt qu¶ tranh luËn t¹i phiªn toµ trªn c¬ së xem xÐt ®Çy ®ñ, toµn diÖn chøng cø, ý kiÕn cña KiÓm s¸t viªn, bÞ c¸o và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, tỉnh Sơn La, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa về thời gian, địa điểm và diễn biến sự việc phù hợp với bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, bị cáo không có ý kiến gì thay đổi hay bổ sung gì và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng vật chứng thu giữ. Kết luận giám định “Khối lượng chất ma túy, loại Heroine thu giữ là 3, 71 gam. Tổng khối lượng chất ma túy thu giữ là 3, 71 gam. Bị cáo khai mục đích mua để sử dụng cho bản thân.

Như vậy: Có đủ căn cứ kết luận: Ngày 04/8/2022 Công an huyện Q, tỉnh Sơn La bắt quả tang Cứ A P, sinh năm 1969; Nơi cư trú: Bản C, xã C, huyện Q, tỉnh Sơn La về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, sức khỏe con người và sự phát triển bình thường của nòi giống dân tộc, phá hoại nhân cách con người, tàn phá cuộc sống gia đình, gây xói mòn đạo lý, làm gia tăng tội phạm, bạo lực, tham nhũng, vắt kiệt nhân lực, tài chính và làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua chất ma túy là Thuốc phiện là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã phạm vào tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, có quy định khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm tù; Tại phiên tòa bị cáo Cứ A P thừa nhận việc bị truy tố và bị đưa ra xét xử là đúng người, đúng tội, không oan, sai cho bị cáo. Do vậy; bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật, nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo, để bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật, để răn đe, phòng ngừa và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý nói chung tại địa phương hiện nay.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, là dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu, vùng xa, ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn và bị cáo có chú ruột là ông Cứ A N là thương binh hạng 4/4 được Chủ tịch UBND tỉnh Yên Bái tặng bằng khen, là tình tiết giảm trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. Qua xác minh, bị cáo hiện nay đang sống vào nghề lao động tự do, không có tài sản riêng có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về nguồn gốc ma túy: Bị cáo P khai là mua với 01 người đàn ông không quen biết tại khu vực xã C, huyện M, tỉnh Điện Biên vào 03/8/2022 nhưng bị cáo P không biết họ tên và địa chỉ cụ thể. Nên Cơ quan điều tra Công an huyện Q, tỉnh Sơn La không có cơ sở điều tra xác minh. Do đó buộc bị cáo tố Cứ A P phải chịu trách nhiệm hình sự đối với toàn bộ 3,71 gam Thuốc phiện thu giữ nêu trên.

Vật chứng vụ án: - 01 phong bì công văn của Công an huyện Q được niêm phong dán kín; Mặt trước phong bì có ghi; 01 túinilon màu trắng + 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở. Mặt sau tại mép dán giáp lai phong bì được dán đè giấy niêm phong số 005391 của Công an tỉnh Sơn La là vật không có giá trị sử dụng, nên cần tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo Cứ A P không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1/ Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Cứ A P phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

- Xử phạt bị cáo Cứ A P12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/8/2022. Không phạt bổ sung – phạt tiền đối với bị cáo.

2/ Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên tiêu hủy: 01 phong bì công văn của Công an huyện Q được niêm phong dán kín; Mặt trước phong bì có ghi; 01 túi nilon màu trắng + 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở. Mặt sau tại mép dán giáp lai phong bì được dán đè giấy niêm phong số 005391 của Công an tỉnh Sơn La.

Theo biên bản bàn giao vật chứng số 03/2022 ngày 12/10/2022 giữa Công an huyện Q, tỉnh Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Q, tỉnh Sơn La.

3/ Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án - Bị cáo Cứ A P được miễn 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

BÞ c¸o Cứ A P được quyÒn kh¸ng c¸o bản án trong h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n là ngày16/11/2022./. N¬i nhËn:

Cỡ chữ