vanban.org

Bản án 02/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 06/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hải T phạm tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hải T 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn ch p hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 06 tháng 5 năm 2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án xét xử bị cáo Nguyễn Hải T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG NINH
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2022/HSST
Ngày: 06 - 01 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhàn,

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Đặng;

2. Ông Lê Thanh Cường.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Ngọc Anh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Quyền, Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 01 năm 2022, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 44/2021/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2021/QĐXX-ST, ngày 23 tháng 12 năm 2021, đối với:

Bị cáo Nguyễn Hải T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 19 tháng 9 năm 1992; nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường H, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học v n: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Thanh T và bà Nguyễn Thị H; có vợ Nguyễn Thị Thu T; có hai con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06 tháng 5 năm 2021, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1964; nghề nghiệp: Kinh doanh; nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường H, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, có mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 20 giờ 20 phút ngày 06 tháng 5 năm 2021, Tổ công tác liên ngành Công an tỉnh Quảng Bình phối hợp với Công an huyện Quảng Ninh tuần tra đảm bảo an ninh trật tự trên các tuyến đường thuộc địa bàn huyện Quảng Ninh. Quá trình tuần tra tại tuyến đường quốc lộ 9B, đoạn qua địa phận tổ dân phố T, thị tr n Q thì phát hiện Nguyễn Hải T điều khiển xe ô tô BKS: 51F-671.37 có biểu hiện nghi v n, nên tổ công tác tiến hành dừng xe và kiểm tra. Quá trình kiểm tra, cơ quan Công an phát hiện tại ngăn chứa đồ bên phải ghế lái của xe ô tô BKS: 51F-671.37 mà T đang điều khiển có 01 (một) túi ni lon bên trong có chứa 58 (năm mươi tám) viên nén màu hồng, có ký hiệu WY. Nguyễn Hải T khai nhận đó là ma túy dạng hồng phiến do T vừa mua từ một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể ở xã X, huyện Q để về sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong số ma túy trên.

Tại bản kết luận giám định số 697/GĐ-PC09, ngày 12-5-2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình kết luận: 58 (năm mươi tám) viên nén màu hồng là ch t ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 6,015 gam (sáu phẩy không trăm mười lăm gam) nằm trong danh mục các ch t ma túy, số thứ tự 323, Danh mục II, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP, ngày 15-5-2018 của Chính phủ.

Về vật chứng: Ngày 06 tháng 5 năm 2021, Cơ quan điều tra thu giữ 01 (một) xe ô tô con nhãn hiệu Mercede-Benz màu xanh đen, BKS: 51F-671.37, xe đã qua sử dụng; 01 (một) Gi y chứng nhận đăng ký xe ô tô số 164103 mang tên Nguyễn Chí T của xe ô tô BKS: 51F-671.37 do Phòng cảnh sát giao thông thành phố Hồ Chí Minh c p ngày 17/5/2016; 01 (một) Gi y chứng nhận kiểm định số KD 5184447 của xe ô tô BKS: 51F-671.37 do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới Quảng Bình c p ngày 12/3/2021; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12 PRO màu đen xám, điện thoại đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12 MINI màu đen, điện thoại đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1289 màu đen, điện thoại đã qua sử dụng.

Ngày 06 tháng 11 năm 2021, Cơ quan điều tra đã trả lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12 PRO màu đen xám; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12 MINI màu đen; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1289 màu đen cho chủ sở hữu Nguyễn Hải T.

Ngày 23 tháng 11 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh ra quyết định đã trả lại 01 (một) xe ô tô con nhãn hiệu Mercede-Benz màu xanh đen, BKS: 51F-671.37; 01 (một) Gi y chứng nhận kiểm định số KD 5184447 của xe ô tô BKS: 51F-671.37 do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới Quảng Bình c p ngày 12/3/2021 cho ông Nguyễn Thanh T là chủ sở hữu

Tại Bản cáo trạng số 45/CT-VKS-MT, ngày 29 tháng 11 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình truy tố bị cáo Nguyễn Hải T về tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Nguyễn Hải T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, đúng như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh đã truy tố.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh giữ quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật phát biểu quan điểm, luận tội chứng minh bị cáo Nguyễn Hải T đã thực hiện hành vi phạm tội tàng trữ trái phép ch t ma túy loại Methamphetamin, số lượng 58 viên, khối lượng 6,015 gam; Cáo trạng truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Hải T mức án từ 24 đến 30 tháng tù; áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy vật chứng sau khi giám định; tịch thu tiêu hủy 01 (một) Gi y chứng nhận đăng ký xe ô tô số 164103 mang tên Nguyễn Chí T của xe ô tô BKS: 51F-671.37 do Phòng cảnh sát giao thông thành phố Hồ Chí Minh c p ngày 17/5/2016.

Bị cáo Nguyễn Hải T nh t trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát và lời luận tội của Kiểm sát viên, hối hận về hành vi phạm tội của mình, tỏ thái độ ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, sớm trở về hòa nhập cộng đồng, có điều kiện giúp đỡ gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quảng Ninh, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo thống nh t, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; phù hợp về thời gian, địa điểm và quá trình diễn biến của vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Vào lúc 20 giờ 20 phút ngày 06 tháng 5 năm 2021, Nguyễn Hải T tàng trữ tại ngăn chứa đồ bên phải ghế lái của xe ôtô BKS: 51F-671.37 gồm 58 (năm mươi tám) viên nén màu hồng, có khối lượng 6,015 gam là ma túy loại Methamphetamine; do Nguyễn Hải T mua về mục đích để sử dụng. Hành vi của Nguyễn Hải T thuộc lỗi cố ý, bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy, hành vi tàng trữ trái phép ch t ma túy của bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố c u thành tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo về tội danh, khung hình phạt như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo r t nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các ch t ma túy, gây m t trật tự trị an xã hội. Bị cáo biết ma túy là loại ch t gây nghiện có nguy cơ gây hại r t lớn cho xã hội, Nhà nước c m sử dụng, nhưng bị cáo vẫn cố tình c t d u để sử dụng. Do đó, cần phải xử lý nghiêm, tương ứng với tính ch t vụ án, tính ch t nguy hiểm của hành vi phạm tội mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung, góp phần đ u tranh phòng, chống tệ nạn và các tội phạm về ma túy trong đời sống xã hội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong phát hiện tội phạm; bị cáo có thành tích giúp nhân dân xã H trong trận lũ lịch sử năm 2020 nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xét th y, bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự; đang nuôi hai con đang còn nhỏ, hiện bị cáo đang điều trị bệnh lao nên cần áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng hình phạt dưới mức th p nh t của khung hình phạt để bị cáo có thời gian cải tạo, điều trị bệnh, trở về địa phương làm ăn, nuôi dạy con cái, sớm trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Bị cáo Nguyễn Hải T khai, khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 06 tháng 5 năm 2021, bị cáo điều khiển xe ô tô BKS 51F1-671.37 đến địa phận xã X, huyện Q mua ma túy của một người đàn ông nhưng không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ xử lý đối tượng trên.

Trong vụ án này, Nguyễn Hải Thanh điều khiển xe ô tô BKS 51F1-671.37 là xe của ông Nguyễn Thanh Tuân - bố đẻ của bị cáo đi mua ma túy, ông Tuân không biết việc bị cáo Thanh l y xe đi mua ma túy nên không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự.

Về vật chứng vụ án: Khối lượng ch t ma túy thu giữ trong vụ án sau khi giám định còn lại 5,812 gam (năm phẩy tám trăm mười hai gam) là vật c m tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luậ tố tụng hình sự.

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12 PRO màu đen xám; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12 MINI màu đen; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1289 màu đen, cơ quan điều tra đã ra quyết định trả lại cho Nguyễn Hải T là chủ sở hữu; 01 (một) xe ô tô con nhãn hiệu Mercede-Benz màu xanh đen, BKS: 51F-671.37; 01 (một) Gi y chứng nhận kiểm định số KD 5184447 của xe ô tô BKS: 51F-671.37 do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới Quảng Bình c p ngày 12/3/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh đã xử lý trả lại cho ông Nguyễn Thanh T là chủ sở hữu đúng với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Đối với 01 (một) Gi y chứng nhận đăng ký xe ô tô số 164103 mang tên Nguyễn Chí T của xe ô tô BKS: 51F-671.37 do Phòng cảnh sát giao thông thành phố Hồ Chí Minh c p ngày 17/5/2016; qua điều tra xác định đây là gi y tờ giả không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Hải Thanh phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm c khoản 1 Điều 47; điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự;

Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136; Điều 260; khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269; khoản 1 Điều 298; khoản 1, 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hải T phạm tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hải T 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn ch p hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 06 tháng 5 năm 2021.

2. Về xử lý vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 5,812 gam (năm phẩy tám trăm mười hai gam) được gói bằng túi nilon trong suốt, ngoài có ghi chữ “A” và vỏ bao gói. Toàn bộ được cho vào 01 (một) phong bì thư rồi dán kín, trên có ghi “697/GĐ-PC 09”; 01 (một) Gi y chứng nhận đăng ký xe ô tô số 164103 mang tên Nguyễn Chí Tâm của xe ô tô BKS: 51F-671.37 do Phòng cảnh sát giao thông thành phố Hồ Chí Minh c p ngày 17/5/2016. T t cả vật chứng trên có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng Ninh và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh ngày 30 tháng 11 năm 2021.

3. Án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Hải T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ