vanban.org

Bản án 02/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 06/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAM RANH
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2022/HS-ST
Ngày: 06/01/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH - TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Thu Hiếu

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Võ Thị Diệu Thảo

Ông Lê Xuân Hoàng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Hữu Xuân Quỳnh - Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Cam Ranh tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Nhật – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 01 năm 2022 tại Trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Cam Ranh – tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 160/2021/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2021/QĐST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Thị H - sinh năm 1996 tại tỉnh Gia Lai; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: thôn LT, xã ID, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; Nơi tạm trú: Tổ MC, phường CN, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa; Trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Trần Đặng S (đã chết) và bà: Đậu Thị N; có chồng (đã ly hôn) và 01 con (sinh năm 2013); Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa

* Người làm chứng:

1. Nguyễn Trọng Ch, sinh năm: 1982; Nơi cư trú: CT1B, chung cư HUD Phường PL, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

2. Lý Thị H, sinh năm: 1989; Nơi cư trú: Ấp KM, xã AN, huyện CT, tỉnh Sóc Trăng.

3. Danh Hồng Ng, sinh năm: 1989; Nơi cư trú: Ấp KM, xã AN, huyện CT, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc nhà cho thuê nơi Trần Thị H ở tại TDP NC, P. CN, TP C có một số đối tượng có biểu hiện nghi vấn tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy, khoảng 09 giờ ngày 20/3/2020, Tổ công tác của công an phường CN phối hợp với Bảo vệ dân phố và Đội Cảnh sát kinh tế - ma túy Công an Thành phố Cam Ranh, thì bị phát hiện 16 đối tượng là nam nữ thanh niên có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy gồm có Trần Thị H, Nguyễn Quốc Nh, Trương Thị Bích Th, Trần Thị Tuyết Nh, Đoàn Quỳnh Nh, Nguyễn Thảo M, Nguyễn Thị Bích L, Trần Khi V, Lý Thị H, Trần Thị Th, Trần Thị Ngọc Tr, Trương Thị Bích Ch, Phạm Thị Thanh Ng, Đỗ Thị Minh S, Danh Hồng Ng và Trần Thị Mai Tr. Test nhanh cho kết quả dương tính với ma túy đối với Nguyễn Thị Thảo M, Trần Khi V, Đoàn Quỳnh Nh, Nguyễn Thị Bích L, Trần Thị Tuyết Nh, Trương Thị Bích Th. Thu giữ 01 ví nhựa viền đỏ bên trong có 01mảnh viên nén màu hồng của Trần Thị H (ký hiệu A).

H khai nhận: H là nhân viên phục vụ tại quán Karaoke N ở tổ dân phố NC, P. CN, TP C. Khoảng 23 giờ ngày 16/3/2020, H đến phòng 201 để phục vụ khách hát tại đây. Trong quá trình phục vụ khách hát, H được người tên H1 (chưa rõ lai lịch) cho 01 viên ma tuý để sử dụng. H sử dụng nửa viên. Nửa viên còn lại Hcất giấu trong người. Sau đó, H cất giấu trong ví nhựa viền đỏ để sử dụng tại góc phòng trọ Hạnh ở tại tổ dân phố NC, P. CN, TP C.

Tại Bản kết luận giám định số 197 ngày 03/4/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Khánh Hòa kết luận : Mảnh viên nén màu hồng trong mẫu ký hiệu A gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2152 gam, là (loại) MDMA.

Tại Bản cáo trạng số 66/CT-VKSCR-HS ngày 15/7/2021 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Cam Ranh đã truy tố bị cáo Trần Thị H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Cam Ranh đã giữ nguyên kết luận truy tố đối với bị cáo; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử như sau:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 02 năm tù, về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Vật chứng vụ án: đề nghị trả lại cho Trần Thị H 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen, số imell: 869604030304918; tịch thu tiêu hủy 01 ví nhựa viền đỏ thu của Trần Thị H.

- Về án phí: đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội có diễn biến như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Cam Ranh đã nêu và cho rằng việc truy tố bị cáo là đúng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng: tại phiên tòa, vắng mặt một số người người làm chứng. Xét thấy việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ theo các Điều 292 và 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về hành vi phạm tội của bị cáo theo cáo trạng truy tố thì thấy: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội có diễn biến như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ để xác định: Khoảng 09 giờ ngày 20/3/2020, tại phòng trọ Trần Thị H ở thuộc nhà trọ ở tổ dân phố NC, P. CN, TP C; Trần Thị H có hành vi tàng trữ trái phép 0,2152 gam ma túy loại MDMA. Như vậy, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Cam Ranh đối với bị cáo là đúng người, đúng tội.

Theo biên bản sự việc ngày 20/3/2020 (BL7-8), tại địa điểm phát hiện sự việc tàng trữ trái phép chất ma túy, ngoài Trần Thị Hcó thêm 15 đối tượng khác có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy bị đưa về trụ sở Công an phường CN để làm việc. Tòa án nhân dân Thành phố Cam Ranh đã nhiều lần trả hồ sơ đề yêu cầu điều tra, xác minh nhân thân lai lịch, lấy lời khai làm rõ việc sử dụng, chứa chấp, tổ chức sử dụng, tàng trữ trái phép chất ma túy của Trần Thị H và 15 đối tượng bị bắt giữ nhưng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Cam Ranh vẫn giữ nguyên kết luận truy tố, chỉ truy tố Trần Thị Hvề hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên không thể xét xử đối với các hành vi và các đối tượng khác theo quy định về giới hạn xét xử tại Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử kiến nghị tiếp tục điều tra làm rõ để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, đã tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội. Nhưng bên cạnh đó, cần xem xét bị cáo cũng đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy nên cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

Về trách nhiệm dân sự:

Về vật chứng: 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen , số imell: 869604030304918 nên trả lại cho bị cáo; 01 ví nhựa viền đỏ thu của Trần Thị H không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự;

- Điều 106, Điều 292, Điều 293 và Điều 298 của Bộ luật tố tụng hình sự;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Xử phạt: Bị cáo Trần Thị H 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

3. Về vật chứng: Trả lại cho Trần Thị H01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu đen, số imell: 869604030304918; tịch thu tiêu hủy 01 (một) ví nhựa viền đỏ (vật chứng được mô tả chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng đề ngày 24/8/2021 giữa Cơ quan CSĐT Công an Thành phố Cam Ranh và Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Cam Ranh).

4. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm.

Cỡ chữ