vanban.org

Bản án 02/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Lê Chân, TP. Hải Phòng Tuyên án 10/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy: 02 phong bì niêm phong số 451MT/PC09, 452MT/PC09 đựng vỏ bao gói và số ma túy còn lại sau giám định; 01 hộp sắt màu đỏ kích thước 20x20x7cm; 01 cân điện tử; 02 dao lam; 01 điện thoại di động Nokia màu đen có số IMEI: 355816093342293. Trả lại bị cáo: 01 điện thoại di động Oppo màu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn Sơn - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LÊ CHÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2022/HS-ST
Ngày 10-01-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Bích Ngọc

Ông Vũ Khắc Tân

Thư ký phiên toà: Bà Đào Thị Linh - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Ông Khắc Thành S - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 139/2021/TLST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 318/2021/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:

Vũ Văn S, sinh năm 198X tại Hải Phòng. ĐKHKTT: Đường T, phường T, quận L, Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn K (đã chết) và bà Nguyễn Thị N; có vợ là Vũ Thị T (đã ly hôn) và 01 con; tiền án: 03 tiền án chưa được xóa: Tại bản án số 330A ngày 22/12/2005, Tòa án nhân dân quận Lê Chân xử 18 tháng tù về tội Cướp giật tài sản; Bản án số 263 ngày 20/12/2007, Tòa án nhân dân quận Lê Chân xử 09 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; Bản án số 165 ngày 06/12/2013, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử 03 năm tù về tội Trốn khỏi nơi giam, tổng hợp thời gian tù còn lại của bản án số 263 ngày 20/12/2007 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 06 năm 0 tháng 14 ngày; bị tạm giữ ngày 14/7/2021; tạm giam ngày 20/7/2021; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 15 phút ngày 14/7/2021, Tổ công tác thuộc đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Lê Chân làm nhiệm vụ tuần tra trên địa bàn, khi đi đến khu vực trước cửa nhà số 7/20 Tôn Đức Thắng, quận Lê Chân, Hải Phòng phát hiện Vũ Văn S điều khiển xe mô tô BKS 89H3-8873 đi một mình có biểu hiện nghi vấn. Khi Tổ công tác yêu cầu dừng xe kiểm tra, S lấy từ túi áo bên trái thả xuống đất ngay sát cạnh chân trái của S 01 túi nilon màu trắng kích thước 5x9 cm trong có 03 gói nilon đều chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy. Tổ công tác tiến hành thu giữ 01 túi nilon trên, ngoài ra còn thu giữ 01 xe mô tô BKS 89H3-8873, 01 điện thoại di động Nokia màu đen, 01 điện thoại di động OPPO màu đỏ, số tiền 1.206.000 đồng và đưa S cùng vật chứng về trụ sở Công an quận Lê Chân lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nhà của Vũ Văn S tại số 40/20 Tôn Đức Thắng, phường Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân, Hải Phòng, Cơ quan điều tra thu giữ tại sàn nhà phòng ngủ của S 01 hộp sắt màu đỏ kích thước 7x20x20 cm bên trong có: 01 túi nilon màu trắng kích thước 5x6 cm chứa chất bột màu trắng dạng cục nghi là ma túy, 01 cân điện tử và 02 dao lam.

Bản Kết luận giám định số 451/KLGĐ-MT ngày 16/7/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất bột màu trắng trong 03 gói nilon thu giữ của Vũ Văn S là ma túy, có khối lượng 0,43 gam, là loại Heroine.

Bản Kết luận giám định số 452/KLGĐ-MT ngày 16/7/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất bột màu trắng dạng cục thu giữ khi khám xét nhà của Vũ Văn S là ma túy, có khối lượng 1,71 gam, là loại Heroine.

Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang và lời khai ban đầu ngày 14/7/2021, Vũ Văn S khai nhận: Số ma túy bị thu giữ khi bắt giữ và khám xét đều là của S. Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 14/7/2021, S điều khiển xe mô tô BKS 89H3-8873 đi một mình từ nhà đến khu vực đường tàu Trần Nguyên Hãn để tìm mua ma túy. Khi đến chắn tàu, S gặp và nhờ 01 nam giới không quen biết đeo khẩu trang mua hộ 1.000.000 đồng tiền Heroine, trả công cho nam giới này 200.000 đồng. Nam giới nhận tiền, đi vào trong khu vực đường tàu khoảng 10 phút rồi đi ra, đưa cho S 01 túi nilon Heroine dạng cục. S cầm số ma túy vừa mua được đi về nhà, lên phòng ngủ ở tầng 2 dùng dao lam, cân điện tử chia nhỏ vào 03 gói nilon, số Heroine còn lại S cho vào 01 túi nilon cất cùng với cân và dao lam trong 01 hộp sắt màu đỏ kích thước 7x20x20 cm để ở sàn phòng ngủ. Sau đó S điều khiển xe mô tô đi ra đầu ngõ mua đồ ăn, cầm theo 03 gói Heroine vừa chia để ở túi áo bên trái với mục đích nếu có người hỏi mua sẽ bán lại kiếm lời. Khi S đi đến khu vực trước cửa nhà số 7/20 Tôn Đức Thắng, quận Lê Chân, Hải Phòng thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt giữ. Kể từ ngày 18/7/2021, Vũ Văn S thay đổi lời khai: Mục đích S mua ma túy chỉ để sử dụng cho bản thân chứ không bán cho ai khác, việc S chia nhỏ ma túy ra từng gói là để sử dụng dần do S nghiện ma túy.

Ngoài lời khai ban đầu ngay sau khi bị bắt giữ và biên bản bắt người phạm tội quả tang, Cơ quan điều tra không thu thập được tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh mục đích Vũ Văn S mua ma túy để bán kiếm lời. Do đó chỉ đủ cơ sở chứng minh lời khai nhận tội của bị can Vũ Văn S về việc mua ma túy để sử dụng cho bản thân là phù hợp với biên bản khám xét, phù hợp với vật chứng thu giữ, Kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Bản Cáo trạng số 09/CT-VKS ngày 20/12/2021, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố bị cáo Vũ Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Bản cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Vũ Văn S mức án từ 6 (sáu) năm 6 (sáu) tháng tù đến 7 (bảy) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Bị cáo không có công việc thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy: 02 phong bì niêm phong số 451MT/PC09, 452MT/PC09 đựng vỏ bao gói và số ma túy còn lại sau giám định; 01 hộp sắt màu đỏ kích thước 20x20x7cm; 01 cân điện tử; 02 dao lam; 01 điện thoại di động Nokia màu đen có số IMEI: 355816093342293; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động Oppo màu đỏ có số IMEI: 862134041657614 và số tiền 1.026.000 đồng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Lê Chân, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện là đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về căn cứ xác định tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, báo cáo bắt giữ của lực lượng công an, kết luận giám định, vật chứng thu giữ, tài liệu khác có trong hồ sơ thể hiện: Khoảng 11 giờ 15 phút, ngày 14/7/2021 Vũ Văn S đã có hành vi cất giữ trái phép 0,43 gam ma túy, là loại Heroine tại khu vực trước cửa nhà số 7/20 Tôn Đức Thắng, phường Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng và 1,71 gam ma túy, là loại Heroine tại nhà riêng số 40/20 Tôn Đức Thắng, phường Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng với mục đích để sử dụng cho bản thân. Vì vậy đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết định khung hình phạt: Nhân thân bị cáo có 3 tiền án đều chưa được xóa án, vì vậy lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết định khung tăng nặng là “tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đối với bị cáo Vũ Văn S về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an xã hội. Bản thân bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, do vậy cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình nên xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Bị cáo không có công việc thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng:

Đối với số ma túy cùng toàn bộ vỏ bao bì còn lại sau giám định đã được niêm phong trong phong bì thư là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 hộp sắt màu đỏ kích thước 20x20x7cm; 01 cân điện tử; 02 dao lam; 01 điện thoại di động Nokia màu đen hiện không còn giá trị sử dụng nên căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu, tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động Oppo màu đỏ và số tiền 1.026.000 đồng thu giữ của bị cáo, xét đây là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo.

- Về các vấn đề khác:

Đối với nam giới đã mua hộ ma túy cho S, do S không biết tên tuổi, lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân không có cơ sở để điều tra.

Đối với chiếc xe mô tô BKS 89H3-8873 thu giữ của S, quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân tiếp tục lưu giữ, xác minh xử lý sau.

- Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Vũ Văn S 6 (sáu) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 14 tháng 7 năm 2021.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy: 02 phong bì niêm phong số 451MT/PC09, 452MT/PC09 đựng vỏ bao gói và số ma túy còn lại sau giám định; 01 hộp sắt màu đỏ kích thước 20x20x7cm; 01 cân điện tử; 02 dao lam; 01 điện thoại di động Nokia màu đen có số IMEI: 355816093342293.

Trả lại bị cáo: 01 điện thoại di động Oppo màu đỏ có số IMEI: 862134041657614; số tiền 1.026.000 đồng.

(Theo biên bản giao, nhận tài sản vật chứng ngày 21/12/2021 giữa Công an quận Lê Chân và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng; theo giấy nộp tiền của Công an quận Lê Chân vào kho bạc nhà nước quận Lê Chân ngày 21/12/2021).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7A và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ