vanban.org

Bản án 02/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 01/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/-Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Nhật H phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.

2/- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật H 02 (hai) năm tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "giao cấu trẻ em - phạm tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (điều 145 Luật sửa…"
  • Tòa quyết gì? 1/-Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Nhật H phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 145 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VŨNG LIÊM
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2022/HS-ST
Ngày: 19-01-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Mỡn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Móm Em.

Bà Nguyễn Thị Hồng Thắm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Hương Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng Liêm tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Trần An Khương – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 78/2021/TLST-HS ngày 21 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2021/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Nhật H, sinh năm 2001, tại huyện V, tỉnh L. Nơi cư trú: ấp A, xã T, huyện V, tỉnh L; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm: 1976 và bà Trần Thị N, sinh năm: 1983; Anh, chị, em ruột có 02 người: lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2008; Bị cáo chưa có vợ, con.

+ Tiền sự: 02 lần.

Ngày 23/11/2020 bị công an xã T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.000.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã nộp phạt.

Ngày 24/04/2021 bị Ủy ban nhân dân xã T ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 27/07/2021 đã chấp hành xong.

+ Tiền án: Không.

Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Cháu Lê Thị Thúy Q – sinh ngày 28/06/2007 ( vắng, có đơn xin vắng mặt);

Người đại diện theo pháp luật của cháu Lê Thị Thúy Q là ông Lê Minh T – sinh năm: 1986 (vắng mặt) và bà Huỳnh Thúy L – sinh năm: 1985 (có mặt);

Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của ông Lê Minh T là bà Huỳnh Thúy L ( có mặt);

Cùng nơi cư trú: ấp H, xã X, huyện T, tỉnh V.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị hại là bà Nguyễn Thị T. Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung Tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Vĩnh Long – ( có mặt);

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/. Bà Trần Thị N – sinh năm: 1983 (có mặt);

2/. Ông Nguyễn Văn C – sinh năm : 1976 (có mặt);

Cùng nơi cư trú : ấp A, xã T, huyện V, tỉnh L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Nhật H, sinh năm 2001 có quen biết với Lê Thị Thúy Q, sinh ngày 26/8/2007 đang là học sinh Trường Trung học cơ sở và Trung học phổ thông xã H, huyện V. Đến khoảng tháng 7/2020 giữa H và Q nảy sinh tình cảm yêu thương với nhau.

Vào ngày 05/9/2021 H nảy sinh ý định quan hệ tình dục với Q nên nhắn tin hỏi Q cho H quan hệ tình dục thì Q đồng ý. Khoảng 22 giờ ngày 05/9/2021, H điều khiển xe mô tô đến nhà Q, chở Q về nhà H và cả hai đã tự nguyện quan hệ tình dục (giao cấu) với nhau 02 lần tại phòng ngủ của H. Sau khi quan hệ tình dục xong H chở Qn về nhà.

Đến khoảng 22 giờ ngày 24/9/2021, H tiếp tục điều khiển xe mô tô đến nhà Q, chở Q về nhà H và cả hai tự nguyện quan hệ tình dục (giao cấu) 01 lần tại phòng ngủ của H. Sau khi giao cấu, cả hai nằm ngủ thì H nhận được tin nhắn của Lê Thị Hồng N, sinh năm 2005 có nội dung: gia đình Q đang tìm Q, thì H giả vờ đến gia đình Q phụ tìm kiếm. Đến khoảng 05 - 06 giờ sáng ngày 25/9/2021 H quay về nhà vào phòng ngủ gặp Q, cả hai đã tự nguyện quan hệ tình dục (giao cấu) với nhau 01 lần rồi nằm ngủ tiếp. Sau đó gia đình Q phát hiện và đến nhà H tìm thì gặp Q đang ở nhà H nên đến Công an xã T trình báo sự việc. Qua làm việc H đã khai nhận toàn tội hành vi phạm tội.

Ngày 04/10/2021 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vũng Liêm đã trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Long, giám định pháp y về tình dục đối với Lê Thị Thúy Q. Tại bản kết luận giám định pháp y về tình dục số 147/2021/TD, ngày 15/10/2021 của Trung Tâm pháp y tỉnh Vĩnh Long kết luận màng trinh của Lê Thị Thúy Q như sau:

Âm hộ: Bình thường

Màng trinh: không còn nguyên vẹn nhiều điểm rách sâu cũ.

Trong quá trình điều tra vụ án, bị cáo Nguyễn Nhật H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Về trách nhiệm dân sự: Hiện nay bà Huỳnh Thúy L là người đại diện hợp pháp cho người bị hại Lê Thị Thúy Q yêu cầu bị cáo bồi thường tiền tổn thất tinh thần do danh dự, nhân phẩm của Q bị xâm hại với tổng số tiền là 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng). Qua yêu cầu của bà L, bị cáo thống nhất bồi thường.

Bà Trần Thị N đã nộp khắc phục hậu quả thay cho bị cáo số tiền 18.000.000đồng (mười tám triệu đồng) theo biên lai thu số 0003768 ngày 22/12/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Vũng Liêm.

Bản cáo trạng số: 02/CT-VKSHVL ngày 20 tháng 12 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long truy tố bị cáo Nguyễn Nhật Hào phạm vào tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” được quy định tại điểm a khoản 2, Điều 145 Bộ luật hình sự.

Ñaïi dieän Vieän kieåm saùt nhaân daân huyeän Vuõng Lieâm phaùt bieåu lôøi luaän toäi, ñaùnh giaù tính chaát, möùc ñoä phaïm toäi vaø ñeà nghò Hoäi ñoàng xeùt xöû :

- Về trách nhiệm hình sự tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Nhật H phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” .

Áp dụng: điểm a khoản 2 Điều 145; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 54 Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, đã sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật H mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù giam.

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 590, Điều 592 Bộ luật dân sự năm 2015.

Bị cáo Nguyễn Nhật H đồng ý bồi thường cho bị hại Lê Thị Thúy Q tiền tổn thất tinh thần do danh dự, nhân phẩm bị xâm hại với tổng số tiền là 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng).

Bà Trần Thị N và ông Nguyễn Văn C là cha mẹ của bị cáo Nguyễn Nhật H tự nguyện nộp tiền khắc phục hậu quả thay cho bị cáo số tiền 18.000.000đồng (mười tám triệu đồng). Bà Trần Thị N và ông Nguyễn Văn C khoâng yeâu caàu gì nên miễn xem xét.

Buộc bị cáo Nguyễn Nhật H còn phải bồi thường tiếp cho bị hại số tiền 32.000.000 đồng ( ba mươi hai triệu đồng).

- Về án phí: Bò caùo Nguyễn Nhật H phaûi chòu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.600.000đ (một triệu sáu trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Ý kiến của trợ giúp viên pháp lý là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Lê Thị Thúy Q:

- Về trách nhiệm hình sự thống nhất theo đề nghị của vị đại diện Viện Kiểm sát, lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tại thời điểm bị cáo và bị hại quan hệ tình dục thì bị hại 14 tuổi, chưa nhận thức được việc bị cáo H quan hệ tình dục đã xâm phạm đến quyền được bảo vệ về nhân phẩm, danh dự trẻ em, xâm hại đến sức khỏe và sự phát triển bình thường của trẻ em do vậy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm ren đe giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

- Về trách nhiệm dân sự: Thống nhất theo đề nghị của vị đại diện Viện Kiểm sát. Bị cáo Nguyễn Nhật H tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 50.000.000đồng (năm mươi triệu đồng), cha mẹ của bị cáo đã nộp khắc phục hậu quả thay bị cáo H số tiền 18.000.000đồng (mười tám triệu đồng) tại chi Cục thi hành án dân sự huyện Vũng Liêm nên đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo H còn phải bồi thường tiếp số tiền 32.000.000đ (ba mươi hai triệu đồng) cho bị hại.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện Vũng Liêm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng Liêm, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qua quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, đương sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Người bị hại cháu Lê Thị Thúy Q có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét, người bị hại vắng mặt đã có lời khai tại Cơ quan Điều tra được thể hiện trong hồ sơ vụ án và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử; căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó, đã có đủ cơ sở kết luận:

Vào các ngày 05/09/2021; 24/09/2021; 25/09/2021 bị cáo Nguyễn Nhật H đã đủ 18 tuổi thực hiện hành vi giao cấu với Lê Thị Thúy Q, sinh ngày 26/8/2007, tổng cộng 04 lần tại phòng ngủ của bị cáo H, thuộc ấp A, xã T, huyện V, tỉnh L.

Hành vi giao cấu với bị hại là trẻ em trong độ tuổi từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi của bị cáo Nguyễn Nhật H là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến quyền được bảo vệ về nhân phẩm, danh dự của trẻ em, xâm phạm đến sức khỏe và sự phát triển bình thường của trẻ em được pháp luật Hình sự quy định.

Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý.

Töø nhöõng caên cöù neâu treân coù ñuû cô sôû khaùch quan keát luaän bò caùo Nguyễn Nhật H phạm toäi “ Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” được quy định tại điểm a khoản 2, Điều 145 Bộ luật Hình sự, cần phải đưa ra xét xử một cách nghiêm minh trước pháp luật để giáo dục cho bị cáo trở thành người hữu ích cho xã hội sau này, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung cho tất cả mọi người trong toàn xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tự nguyện khắc phục hậu cho bị hại, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về nhân thân của bị cáo:

Bị cáo có 02 tiền sự: Ngày 23/11/2020 bị công an xã T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.000.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã nộp phạt. Ngày 24/04/2021 bị Ủy ban nhân dân xã T ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 27/07/2021 đã chấp hành xong.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo Nguyễn Nhật H tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại Lê Thị Thúy Q tiền tổn thất tinh thần do danh dự, nhân phẩm bị xâm hại với số tiền là 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng).

Bà Trần Thị N và ông Nguyễn Văn C là cha mẹ của bị cáo Nguyễn Nhật H nộp khắc phục hậu quả thay cho bị cáo số tiền 18.000.000đồng (mười tám triệu đồng) theo biên lai thu số 0003768 ngày 22/12/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Vũng Liêm. Bà Trần Thị N và ông Nguyễn Văn C khoâng yeâu caàu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Buộc bị cáo Nguyễn Nhật H còn phải bồi thường tiếp cho bị hại Lê Thị Thúy Q số tiền 32.000.000đồng (ba mươi hai triệu đồng).

Veà aùn phí sô thaåm: Bò caùo phaûi chòu aùn phí hình sự và dân sự theo quy ñònh cuûa phaùp luaät.

Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ để chấp nhận.

Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại là có căn cứ chấp nhận .

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 145; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017.

1/-Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Nhật H phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.

2/- Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật H 02 (hai) năm tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

3/- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Ñieàu 592 Bộ luật dân sự năm 2015.

Bị cáo Nguyễn Nhật H có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho bị hại Lê Thị Thúy Q tiền tổn thất tinh thần do danh dự, nhân phẩm bị xâm hại số tiền là 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng).

Bà Trần Thị N và ông Nguyễn Văn C đã nộp khắc phục hậu quả số tiền 18.000.000đồng (mười tám triệu đồng) thay cho bị cáo Nguyễn Nhật H. Bà Trần Thị N và ông Nguyễn Văn C khoâng yeâu caàu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Buộc bị cáo Nguyễn Nhật H còn phải bồi thường tiếp cho bị hại Lê Thị Thúy Q số tiền 32.000.000đồng (ba mươi hai triệu đồng).

Tiếp tục giữ số tiền 18.000.000đ (mười tám triệu đồng) do bà Trần Thị N đã nộp theo biên lai thu số 0003768 ngày 22/12/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũng Liêm để giao lại cho người đại diện hợp pháp của bị hại Lê Thị Thúy Q là ông Lê Minh T và bà Huỳnh Thúy L nhận số tiền 18.000.000đồng (mười tám triệu đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án chưa thi hành án xong, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

4/- Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định án phí và lệ phí tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Nhật H phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.600.000đ (một triệu sáu trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thì hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử kín sơ thẩm bị cáo và các đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử lại phúc thẩm./.

Cỡ chữ