vanban.org

Bản án 02/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Lộc, TP. Huế Tuyên án 12/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; Điều 38; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức T - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật s…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ LỘC
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02 /2022/HS-ST
Ngày: 12/01/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Ông Phan Sang.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Vy và ông Hồ Sỹ Định.

Thư ký phiên toà:Bà Đoàn Anh Nga - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc tham gia phiên toà:

Ông Đinh Thanh Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:51/2021/TLST-HS ngày 23 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2021/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Đức T; sinh ngày 28/01/1994 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; trú tại: Số nhà X, kiệt Y, đường T, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Không ổn định; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn T, sinh năm 1968 và bà: Dương Thị Mỹ T, sinh năm 1969; vợ con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Có 01 tiền sự (Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 619/QĐ-XPHC ngày 26/12/2019 của Công an thị xã Hương Thủy, đến ngày 11/10/2021 thi hành xong); bị cáo tại ngoại; có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại:

Ông Võ Trọng L, sinh năm 1963; bà Dương Thị T, sinh năm 1961 (là cha mẹ ruột của bị hại). Đều trú tại: Tổ X, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Người đại diện theo ủy quyền: Anh Võ Trọng P, sinh năm 1988; trú tại: Tổ X, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế (Văn bản ủy quyền ngày 23/4/2021), có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Công ty cổ phần Vận tải H. Địa chỉ: Đường H, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đ, sinh năm 1971, chức vụ: Giám đốc Công ty. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Chí V, sinh năm 1984, trú tại: Tổ dân phố Y, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế (Văn bản ủy quyền ngày 18/3/2021), cómặt.

Ông Phan Quốc H, sinh năm 1966, địa chỉ: Thôn B, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.

- Người làm chứng: Chị Trần Hồng Ngọc T, sinh năm 2002; địa chỉ: Tổ 4, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều tối ngày 16/03/2021, Nguyễn Đức T (không có giấy phép lái xe) điều khiển xe mô tô 75G1-277.49 chở sau chị Võ Thị L lưu thông trên đường Quốc lộ 1A theo hướng Đà Nẵng- Huế. Khoảng 20 giờ 35 phút cùng ngày, xe mô tô do T điều khiển đi đến Km 854+150 QL1 (thuộc địa phận xã Lộc Điền, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế). Lúc này xe mô tô do Nguyễn Đức T bị ngã sang trái làm chị Võ Thị L ngã xuống đường nên bị xe ô tô 75C- 046.28; rơ móc 75R-002.54 do anh Phan Quốc H điều khiển chạy cùng chiều làn bên trái xe T điều khiển (sát dải phân cách cứng) cán qua người. Hậu quả, chị L chết tại chỗ, T bị thương, xe mô tô bị hư hỏng nhẹ.

Kết quả khám nghiệm hiện trường(hướng Đà Nẵng -Huế) xác định:

Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn thẳng, đi qua khu vực ít dân cư sinh sống, chịu sự điều chỉnh của biển báo nguy hiểm “Giao nhau với đường không ưu tiên bên phải”, “Cụm gồ giảm tốc” và “biển chỉ dẫn được phép quay đầu”; Mặt đường khá bằng, xuống dốc. Mặt đường rộng 20 mét, trên mặt đường có dải phân cách cứng ở giữa, chia mặt đường ra hai phần dành cho hai dòng phương tiện chạy ngược chiều nhau, tại đây dải phân cách cứng ngắt quãng làm nơi quay đầu xe. Vụ tai nạn xảy ra trên phần đường bên phải, phần đường này rộng 9,60m, trên mặt đường có kẻ các vạch sơn màu trắng làm vạch kẻ đường; vạch trong cùng bên phải liên tục, cách mép phải đường nhựa là 1,86m. Lấy biển báo chỉ dẫn “được phép quay đầu xe” làm mốc khám nghiệm vụ tai nạn. Biển báo cách điểm đầu đám dấu vết (1) là 3,70m theo hướng vuông gốc. Lấy mép phải đường làm chuẩn: Đám dấu vết (1) là đám dấu vết cày trượt trên mặt đường nhựa, gồm nhiều vết cày nhỏ, cày nối tiếp nhau tạo thành, có hướng Đà Nẵng đi Huế, nằm trên mặt làn đường dành cho phương tiện cơ giới bên phải trong diện rộng (21,4 x 0,30)m, các vết này là các vết bám các mảnh kim loại màu sáng trắng và các vết làm mới bề mặt bê tông nhựa, sứt mẻ các hạt đá. Điểm đầu vết (1) cách mép phải đường là 4,30m, điểm cuối nằm dưới thân xe mô tô 75G1-277.49 và cách mép phải đường nhựa là 4,31m.Đám dấu vết (2) là đám dấu vết tổ chức da thịt, não, đám (2) nằm trên làn đường dành cho phương tiện cơ giới bên phải (sát bên cạnh dải phân cách cứng ở giữa). Đám (2) trong diện rộng (4,40 x 1,30)m, có hình hướng tia bắn về hướng Huế, điểm đầu (2) cách điểm đầu dấu vết (1) là 16,50m, cách mép phải đường nhựa là 6,30m, điểm cuối nằm dưới tử thi nữ giới (3). Tử thi nữ giới (3) nằm ngửa trên mặt đường, làn đường dành cho xe cơ giới (sát bên phải dải phân cách cứng), thân tử thi theo hướng từ đầu đến chân, từ trái sang phải hướng khám nghiệm. Đầu và chân tử thi cách mép phải đường nhựa là 6,90m và 5,40m; đầu tử thi cách điểm đầu dấu vết (2) là 4,40m.

Xe mô tô mang biển số 75G1- 277.49 (4) trong trạng thái nằm đỗ toàn thân sang trái trên mặt đường nhựa, làn đường dành cho phương tiện cơ giới bên phải. thân xe theo hướng từ đầu đến đuôi, từ phải sang trái của hướng khám nghiệm, bánh lốp sau nằm sát cạnh chân tử thi nữ giới. Trục bánh trước, bánh sau lần lượt cách mép phải đường nhựa là 4,20m và 5,35m. Trục bánh trước cách điểm đầu vết (1) là 21m. Phía bên phải tử thi sau đuôi xe mô tô 75G1- 277.49 là đám dấu vết (5). Đám (5) là dấu lăn của lốp xe ô tô. Dấu (5) có hình đường thẳng, bề mặt là các tổ chức da thịt, chất dính ướt bám mặt đường, trong diện (24,3 x 0,20)m, nằm trên làn đường dành cho phương tiện cơ giới ở bên phải dải phân cách cứng. Điểm đầu (5) ở cạnh tử thi nữ giới và cách mép phải đường nhựa là 6,30m, điểm cuối nằm dưới bánh lốp sau cuối phải rơ mooc 75R-002.54.Xe ô tô đầu kéo mang biển số 75C-046.28, rơ mooc 75R-002.54 trong trạng thái đang đậu đỗ trên mặt đường nhựa, làn đường xe cơ giới bên phải dải phân cách cứng, thân xe theo hướng từ sau đến trước, hướng Đà Nẵng đi Huế. Mặt trục của bánh lốp sau cùng bên phải rơ mooc 75R-002.54 cách trục bánh sau xe mô tô 75G1-277.49 là 24,30m. Bề mặt ngoài của lốp bánh sau phải cuối xe 75R-002.54, sau cuối và bánh lốp trước bên phải của xe ô tô 75C-046.28 lần lượt cách mép phải đường nhựa là 5,60m, 5,80m và 5,70m.

Kết quả khám nghiệm phương tiện xác định:

Xe mô tô 75G1- 277.49:Bề mặt ngoài của góc trước trái vỏ nhựa đầu xe xây xước bề mặt sơn, chiều từ phải sang trái; núm kim loại tay côn, gắn trên tay cầm lái bên trái cà mòn kim loại phần bề mặt phía trên.Phần mặt trước của phần thân bên ngoài (tại vị trí núm tay cầm) ống cao su tay cầm lái bên trái cà xơ ống cao su, cà xơ theo chiều từ phải sang trái, kích thước (3x2,5)cm. Bề mặt trên của phần tì đè mu bàn tay của phần sau ống cao su tay lái này xây xước, bám dính chất bẩn màu đất, vết xây xước theo hướng từ trong ra ngoài, kích thước (9x2)cm. Bề mặt của lốp bánh trước màu đen, trong trạng thái được làm mới cao su; viền mang bên trái xây xước nhựa; bề mặt bên ngoài của bàn đạp cần số và gác để chân trước trái xây xước kim loại; bề mặt bên ngoài của gác để chân sau trái xây xước kim loại; trên viền bên trái của chắn bùn lốp bánh sau bám dính tổ chức da thịt màu đỏ; cần phanh bánh lốp sau biến dạng theo chiều từ dưới lên trên.

Xe ô tô 75C-046.28: Bề mặt ngoài của bánh lốp phải, xây xước bề mặt, bám dính chất tơ sợi vải, trong diện (36x10)cm. Trong vùng xây xước này, tại vị trí các răng lốp xây xước,làm mới, xơ bề mặt cao su, bám dính các xơ cục cao su; tại vị trí mặt trơn của lốp bám tơ vải sợi trên bề mặt gồ của vân lốp, đám bám sợi này trong diện (13x10)cm. Bề mặt bên ngoài của bánh lốp, lagang trước phải bám dính chất dịch và tổ chức da thịt.

Xe rơ mooc 75R-002.54: Bề mặt ngoài của lốp bánh ngoài của hàng lốp thứ 2 từ sau đến trước bám dính chất bẩn màu đỏ thẩm (dạng máu). Bề mặt trong của lốp, phần bề mặt lốp tiếp xúc giữa 2 lốp của hàng bánh lốp này bám dính nhiều tổ chức da thịt.Bệ mặt dưới của phần gầm xe, cùng các chi tiết ở đấy xe bên phải bám dính các tổ chức da thịt rải rác từ phần cụm bánh lốp sau phải của xe ô tô 75C-046.28 đến phần đuôi xe ô tô 75R- 002.54.

Tại Kết luận giám định số 165/GĐ ngày 01/4/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thừa Thiên Huế kết luận: Không đủ yếu tố để xác định giữa xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 75C-046.28, rơ mooc 75R-002.54 và xe mô tô 75G1-277.49 có va chạm với nhau hay không.

Tại Kết luận giám định số 424/C09C-Đ2 ngày 29/4/2021 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận: Ốp ngoài tay cầm lái bên trái xe mô tô 75G1-277.49 ký hiệu A2 gửi giám định không tìm thấy cao su. Chất màu đen bám tại 02 (hai) mảnh chất màu đen ghi thu tại má ngoài lốp trước bên phải của xe ô tô biển số 75C-046.28 ký hiệu N1 gửi giám định quá ít và lẫn nhiều tạp chất nên không đủ yếu tố giám định. Chất màu đen bám tại ống tay áo bên trái khoác ngoài ghi thu của anh Nguyễn Đức T gửi giám định quá ít và lẫn nhiều tạp chất nên không đủ yếu tố giám định.

Tại Kết luận giám định số 421/C09C-Đ3 ngày 29/4/2021 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận: Xơ sợi vải bám tại má ngoài lốp trước bên phải xe ô tô biển số 75C-046.28 không cùng loại với xơ sợi dệt mẫu vải áo khoác ngoài của Nguyễn Đức T.

Tại Kết luận giám định pháp y tử thi số 11/GĐ ngày 24/03/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thừa Thiên Huế kết luận đối với nạn nhân Võ Thị L đã kết luận nguyên nhân chết của chị L là do đa chấn thương.

Về vật chứng: Quá trình điều tra đã thu giữ gồm: 01 xe ô tô 75C-046.28, kéo rơ mooc 75R-002.54; Bản sao giấy chứng nhận đăng ký đầu kéo 75C-046.28; Bản sao giấy chứng nhận đăng ký rơ mooc 75R-002.54; Bản sao giấy chứng nhận kiểm định rơ mooc 75R-002.54; Giấy phép lái xe ô tô hạng FC số: 460974000008, mang tên Phan Quốc H do sở Giao thông vận tải tỉnh Thừa Thiên Huế cấp ngày 6/12/2019; 01 xe mô tô biển số 75G1-277.49; 01 áo khoác có chất liệu bằng vải, màu đỏ, đen, trên ngực trái và phía sau lưng có in chữ “ANPAI, áo đã qua sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã tự thỏa thuận về bồi thường dân sự, theo đó chủ xe ô tô 75C-046.28, rơ mooc 75R-002.54 cùng anh Phan Quốc H tự nguyện thỏa thuận hỗ trợ cho gia đình bị hại số tiền 80.000.000đ. Đối với Nguyễn Đức T gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường nhưng T đã tự nguyện đền bù thiệt hại cho gia gia đình nạn nhân số tiền 17.000.000đ. Đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ số tiền và có đơn bãi nại cho bị cáo.

Tại Cáo trạng số: 54/CT-VKSPL, ngày 22 tháng 11 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự.

̀

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Triển từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung. Về trách nhiệm dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Bị cáo Nguyễn Đức T thừa nhận hành vi của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo xin lỗi gia đình bị hại, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Đức Triển.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Phú Lộc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Phú Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Xét hành vi của bị cáo Nguyễn Đức T thấy rằng:

Khoảng 20 giờ 35 phút ngày 16/03/2021, Nguyễn Đức T (không có giấy phép lái xe) trực tiếp điều khiển xe mô tô 75G1-277.49 chở phía sau là chị Võ Thị L chạy theo hướng Đà Nẵng- Huế. Khi đến Km 854+150 QL1 (thuộc địa phận xã Lộc Điền, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế), do Nguyễn Đức T thiếu chú ý quan sát khi đi qua đoạn đường có biển cảnh báo nguy hiểm “Giao nhau với đường không ưu tiên bên phải”, “Cụm gồ giảm tốc” và biển chỉ dẫn “được phép quay đầu”; nhưng không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn dẫn đến bị ngã xe sang trái làm chị Võ Thị L ngã xuống đường nên bị xe ô tô 75C-046.28; rơ móc 75R-002.54 do anh Phan Quốc H điều khiển chạy cùng chiều làn bên trái xe T (sát dải phân cách cứng) cán qua người làm chị L chết.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Đức T đã vi phạm khoản 1 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ giao thông vận tải quy định về khoảng cách an toàn giữa hai xe khi tham gia giao thông trên đường và khoản 1 Điều 9, Điều 11, Điều 12 Luật giao thông đường bộ, gây hậu quả làm một người chết, đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Do bị cáo không có giấy phép lái xe theo quy định nên đã phạm vào tình tiết định khung tăng nặng theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Cáo trạng số 54/CT-VKSPL ngày 22/11/2021của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Trong vụ tai nạn này lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo T. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại về tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an toàn giao thông tại địa phương nên cần xét xử nghiêm minh theo quy định pháp luật.

Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy rằng: Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng:

Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Nguyễn Đức T bị Công an thị xã Hương Thủy xử phạt hành chính về hành vi cố ý gây thương tích (Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số619/QĐ-XPHC ngày 26/12/2019, đến ngày 11/10/2021 bị cáo chấp hành xong hình phạt).

Căn cứ vào tính chất lỗi, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn giao thông là do lỗi của bị cáo. Vì vậy, cần thiết phải xử phạt tù để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giữa bị cáo và bị hại có quan hệ bạn bè, vụ tai nạn xảy ra khi cả hai đang trên đường đi chơi về (T khai trước đó chị L có nói mệt và buồn ngủ); bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nghiệm hình sự nào. Do đó, cần áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo là phù hợp.

Đối với anh Phan Quốc H điều khiển xe ô tô 75C- 046.28, rơ móc 75R-002.54 đi đúng phần đường, làn đường, không có sự va chạm với xe mô tô 75G1-277.49 do Nguyễn Đức T điều khiển. Xe ô tô 75C- 046.28; rơ móc 75R-002.54 do anh H điều khiển cán qua người làm chị L chết tại chỗ nằm ngoài ý chí, khả năng của anh H, Cơ quan điều tra kết luận không có lỗi, Viện kiểm sát không truy tố nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội do lỗi vô ý, hoàn cảnh kinh tế rất khó khăn nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận bồi thường tổng cộng các khoản với số tiền là 97.000.000đ; tại phiên tòa không ai có yêu cầu gì thêm nên Hội đông xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Lộc ra quyết định xử trả lại các vật chứng đã tạm giữ cho chủ sở hữu và người quản lý hợp pháp. Tại phiên tòa, không ai có ý kiến gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức Triển phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; Điều 38; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Đức T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ