vanban.org

Bản án 02/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 04/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố bị cáo: Phạm Kiên Đ phạm tội: “Đánh bạc”.

[2] Xử phạt: Bị cáo Phạm Kiên Đ 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng) để nộp vào Ngân sách Nhà nước. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Phạm Kiên Đ.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Đ phạm tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo: Phạm Kiên Đ phạm tội: “Đánh bạc”.
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN L THAO
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2022/HS-ST
Ngày: 04/11/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH PHÚ THỌ

- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thu Trang.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Vện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Chu Ngọc - Kiểm sát Vên

Ngày 04/11/2022, tại trụ sở toà án nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn công khai vụ án hình sự thụ lý số 04/2022/HS-ST ngày 26 tháng 10 năm 2022 theo quyết Đ đưa vụ án ra xét xử số 02/2022/QĐXXST- HS ngày 31 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Kiên Đ; tên gọi khác: Không; sinh ngày 02/8/1971 tại thị xã P, tỉnh Phú Thọ; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khu 13, thị trấn H, huyện L, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Vệt Nam; con ông: Phạm Ngọc B (đã chết); con bà: Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1942; có vợ: Lê Thị Thúy H, sinh năm 1980; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 28/9/2022 đến ngày 01/10/2022, bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 17 giờ 10 phút ngày 28/9/2022, Phạm Kiên Đ sinh năm 1971 ở khu 13, thị trấn H, huyện L, tỉnh Phú Thọ đang ở quán bán hàng tạp hóa của gia đình thì có Bùi Thế L, sinh năm 1993, ở khu 12, xã Sơn V đến gặp Đ bảo Đ bán cho L số lô, số đề, Đ đồng ý. L đọc cho Đ ghi các số lô, số đề gồm: Số lô 57 mua 30 điểm; các số lô 75,79,97 mỗi số 20 điểm; các số đề 34,43,45,54,29,92,13,31,86 mỗi số mua với giá 24.000 đồng. Đ dùng bút bi mực xanh ghi các số lô, số đề vào mặt trắng tờ lịch treo tường, kích thước 15,7x25cm một mặt có in ngày 27/9/2022, một mặt màu trắng có ghi nhiều số và chữ bằng mực màu xanh cùng với các số lô, số đề đã bán cho nhiều người khác trong ngày; Đ cũng ghi các số sô, số đề L mua vào mặt trắng 01 mảnh giấy được cắt ra từ tờ lịch treo tường (cáp lô đề) kích thước 5,4x9,9cm đưa cho L để đối chiếu khi trúng số lô, đề. Số tiền L mua của Đ 90 điểm lô là 2.070.000 đồng (23.000 đồng/1 điểm) và 09 số đề là 216.000 đồng, tổng số tiền L phải trả cho Đ là 2.286.000 đồng. Đ giảm trừ cho L 36.000 đồng là tiền mua số đề, L đã trả cho Đ số tiền 2.250.000 đồng.

Sau khi L mua số lô, số đề của Đ thì đồng thời có Nguyễn Quang V, sinh năm 2005, ở khu 15, thị trấn H, huyện L đến bảo Đ bán số lô, số đề, Đ đồng ý. V đọc cho Đ ghi các số lô, số đề gồm: Các số lô 68,12,21,54,45 mỗi số 30 điểm; các số đề 68,86,12,21,13,31,54,45,05,50 mỗi số giá 10.000 đồng, số đề 22 giá 60.000 đồng. Đ dùng bút bi mực xanh ghi các số lô, số đề V mua vào cùng tờ lịch dùng làm bảng kê cùng với các số lô, số đề đã bán cho L và nhiều người khác trước đó; Đ cũng ghi các số lô, số đề L mua vào mặt trắng 01 mảnh giấy có cắt ra từ tờ lịch treo tường (cáp lô đề) kích thước 5,4x9,9cm đưa cho V để đối chiếu khi trúng số lô, đề. Số tiền V mua của Đ 150 điểm lô x 23.000đ/1 điểm là 3.450.000 đồng và 11 số đề là 160.000 đồng, tổng số tiền V phải trả cho Đ là 3.610.000 đồng. Đ giảm trừ cho V 60.000 đồng. V đã trả cho Đ số tiền 3.550.000 đồng.

Hồi 17 giờ 15 phút cùng ngày, sau khi V trả tiền mua số lô, số đề cho Đ xong thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L phối hợp với Công an thị trấn H, huyện L lập biên bản bắt người phạm tội quả tang; tiến hành thu giữ vật chứng theo đúng quy Đ.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành khám xét chỗ ở của Phạm Kiên Đ. Quá trình khám xét, Cơ quan điều tra đã thu giữ tại gian phòng khách 01 quyển lịch tờ năm 2022 được xé đến tờ lịch ghi ngày 28/9/2022; thu giữ tại gian phòng ngủ số tiền 47.500.000 đồng. Đ bị tạm giữ để phục vụ công tác điều tra.

Quá trình điều tra, Phạm Kiên Đ khai tự thỏa thuận với khách cách thức mua, bán số lố, số đề, đối chiếu xác Đ tỷ lệ thắng thua như sau: số đề gồm 2 số tự nhiên bất kỳ từ 0 đến 9 (cặp số từ 00 đến 99). Số đề người mua thắng là số đề trùng với 02 số cuối của giải đặc biệt. Số lô gồm cặp số tự nhiên bất kỳ từ 00 đến 99. Số lô người mua thắng là số lô trùng với 02 số cuối của tất cả các giải thưởng. Kết quả số lô, số đề người mua thắng được đối chiếu với kết quả xổ số miền Bắc mở thưởng cùng ngày. Nếu người mua thắng Đ phải trả cho người mua số tiền bằng 70 lần tiền mua số đề, tiền mua số lô là 80.000 đồng/1 điểm. Đ thanh toán thắng thua cho những người chơi sau khi có kết quả sổ xố Miền bắc.

Với cách thức như trên, ngày 28/9/2022 sau khi Đ bán số lô, đề cho L và V xong thì bị cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang như đã nêu trên. Đ còn khai nhận: cùng ngày, trước khi bán các số lô, số đề cho Bùi Thế L và Nguyễn Quang V, Đ còn bán các số lô, số đề cho một số đối tượng khác Đ không nhớ được là ai, địa chỉ ở đâu. Đ ghi các số lô, số đề này vào cùng bảng lô đề đã ghi cho L và V. Tổng số tiền Đ bán số lô, số đề cho những đối tượng khác là 4.269.000 đồng, Đ đã thu tiền của những người mua này. Ngày 04/10/2022, Phạm Kiên Đ đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 4.365.000 đồng bao gồm số tiền 4.269.000 đồng đã nêu ở trên, 96.000 đồng là số tiền Đ giảm trừ cho L và V khi mua số lô, số đề. Ngoài ra, Đ còn khai nhận Đ bán số lô, đề cho khách chơi sau đó nộp lại bảng lô đề cho một người phụ nữ theo như Đ khai có tên là Hoa, nhà ở thị trấn P, huyện P khoảng 1 tuần trước khi bị bắt. Vệc thanh toán tiền thắng thua giữa Hoa và Đ diễn ra vào ngày hôm sau khi Hoa đến nhà Đ lấy bảng kê số lô số đề của lần chơi sau. Đ được Hoa trích tỉ lệ 25 % trên tổng số tiền đề và 1.200đ/ 1 điểm lô, sau mỗi lần thanh toán các bảng kê lô, đề Đ và Hoa đều đốt bỏ nên không nhớ số tiền từng ngày cũng như các số lô, đề, người chơi. Khi Hoa đến gặp Đ thì Hoa đều đeo khẩu trang, đội mũ bảo hiểm nên Đ không nhìn rõ mặt, ngoài ra không có thông tin, chứng cứ gì khác về đối tượng có tên là Hoa như Đ khai. Căn cứ lời khai của Đ, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ những người đã mua số lô, đề của Đ cũng như đối tượng có tên là Hoa, vì vậy Đ phải chịu trách nhiệm về tổng số tiền đã đánh bạc với L, Vnh và những người chơi khác theo quy Đ của Pháp luật.

Vật chứng, tài sản bị thu giữ: 01 tờ lịch treo tường, kích thước 15,7x25cm, một mặt có in ngày 27/9/2022, một mặt màu trắng có ghi nhiều số và chữ bằng mực màu xanh; 01 cáp đề thu giữ của Bùi Thế L; 01 cáp đề thu giữ của Nguyễn Quang V; số tiền 5.800.000 đồng là tiền Đ bán số lô, đề cho L và V; số tiền 4.365.000 đồng Đ bán số lô đề cho những người chơi khác ngày 28/9/2012; 10 mảnh giấy kích thước không đều nhau, được cắt ra từ nhiều tờ lịch treo tường; 02 bút bi, vỏ bằng nhựa, mực màu xanh, đã qua sử dụng; 01 quyển lịch tờ năm 2022 được xé đến tờ lịch ghi ngày 28/9/2022.

+ Số tiền 47.500.000 đồng thu giữ khi khám xét khẩn cấp, quá trình điều tra xác Đ đây là tiền bán hàng tạp hóa, tiền tích cóp của chị Lê Thị Thúy H, sinh năm 1980 là vợ Đ, việc Đ ghi số lô, đề chị H không biết, số tiền cơ quan điều tra thu giữ không liên quan đến hành V phạm tội của Đ. Chị Hiển có đơn xin nhận lại nên ngày 14/10/2022, Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại số tiền 47.500.000 đồng cho chị Lê Thị Thúy H.

Hành vi đánh bạc của Phạm Kiên Đ bằng hình thức bán số lô, đề cho Bùi Thế L, Nguyễn Quang V và những người chơi khác được phát hiện trước khi có kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết Miền Bắc vào hồi 18 giờ 30 phút cùng ngày. Do vậy, Đ phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng số tiền đánh bạc là 10.165.000đ.

Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đã xác Đ nhân thân và số tiền dùng để đánh bạc của Bùi Thế L và Nguyễn Quang V chưa đủ để xử lý về hình sự, ngày 21/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã chuyển hồ sơ cho Công an huyện L để xử phạt Vi phạm hành chính theo quy Đ. Đối với người phụ nữ Đ khai tên là H và những người khác đã mua các số lô, số đề của Đ vào ngày 28/9/2022, Đ không biết tên, tuổi, địa chỉ, ngoài lời khai của Đ không còn chứng cứ nào khác nên Cơ quan Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L không có cơ sở để xử lý là phù hợp.

Về tài sản: Quá trình điều tra xác Đ, ngoài tài sản chung của vợ chồng, Phạm Kiên Đ không có tài sản riêng gì có giá trị.

Tại Quyết Đ truy tố theo thủ tục rút gọn số: 02/QĐ - VKSLT ngày 25/10/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện L đã truy tố bị cáo Phạm Kiên Đ về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà đại diện Vện kiểm sát nhân dân huyện L giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Kiên Đ phạm tội “Đánh bạc”

Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; khoản 1, khoản 3 Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

- Xử phạt: Bị cáo Phạm Kiên Đ từ 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng) đến 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng) để nộp vào Ngân sách Nhà nước.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Phạm Kiên Đ.

- Về xử lý vật chứng: điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 10.165.000đ (Mười triệu một trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).

Tịch thu tiêu hủy: 10 (mười) mảnh giấy kích thước không đều nhau, được cắt ra từ nhiều tờ lịch treo tường; 02 (hai) bút bi, vỏ bằng nhựa, mực màu xanh, đã qua sử dụng; 01 quyển lịch tờ năm 2022 được xé đến tờ lịch ghi ngày 28/9/2022.

Tịch thu lưu hồ sơ: 01 tờ lịch treo tường, kích thước 15,7x25cm, một mặt có in thông tin ngày 27/9/2022, một mặt màu trắng có ghi nhiều chữ và số bằng mực màu xanh; 01 cáp đề thu giữ của Bùi Thế L; 01 cáp đề thu giữ của Nguyễn Quang Vnh.

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Phạm Kiên Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy Đ của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Kiên Đ hoàn toàn khai nhận hành V phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN Đ CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa nhận thấy:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Vện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ kết luận: Ngày 28/9/2022, Phạm Kiên Đ có hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số lô, đề cho Bùi Thế L, Nguyễn Quang V và những người chơi khác với tổng số tiền đánh bạc là 10.165.000đ (Mười triệu một trăm sáu mươi lăm nghìn đồng). Do đó, quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện L truy tố bị cáo Phạm Kiên Đ về tội đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

Điều 321 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt V phạm hành chính về hành V này hoặc hành V quy Đ tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy Đ tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn V phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. …”

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Vụ án thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng nhưng hành V phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự công cộng, làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác cũng như ảnh hưởng đến kinh tế, hạnh phúc gia đình nhưng bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý thể hiện sự coi thường pháp luật. Vì vậy, cần phải đưa bị cáo ra xét xử và có hình phạt phù hợp đối với bị cáo. Tuy nhiên, trước khi quyết Đ hình phạt cần phải xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo cụ thể như sau:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Kiên Đ không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy, chỉ cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Do đã áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.

Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 10.165.000đ (Mười triệu một trăm sáu mươi lăm nghìn đồng) là tiền bị cáo có được do hành vi phạm tội mà có nên cần tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước là phù hợp.

Đối với 10 (mười) mảnh giấy kích thước không đều nhau, được cắt ra từ nhiều tờ lịch treo tường; 02 (hai) bút bi, vỏ bằng nhựa, mực màu xanh, đã qua sử dụng; 01 quyển lịch tờ năm 2022 được xé đến tờ lịch ghi ngày 28/9/2022 mà bị cáo đã sử dụng để ghi số lô, số đề không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

Đối với 01 tờ lịch treo tường, kích thước 15,7x25cm, một mặt có in thông tin ngày 27/9/2022, một mặt màu trắng có ghi nhiều chữ và số bằng mực màu xanh; 01 cáp đề thu giữ của Bùi Thế L; 01 cáp đề thu giữ của Nguyễn Quang V. Đây là các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo là chứng cứ của vụ án nên cần tịch thu lưu hồ sơ là phù hợp.

Đối với số tiền 47.500.000đ (Bốn mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng) thu giữ khi khám xét khẩn cấp. Quá trình điều tra xác Đ đây là tiền bán hàng tạp hóa, tiền tích cóp của chị Lê Thị Thúy H, sinh năm 1980 là vợ của bị cáo Đ, việc Đ ghi số lô, đề chị H không biết, số tiền cơ quan điều tra thu giữ không liên quan đến hành vi phạm tội của Đ. Chị H có đơn xin nhận lại nên ngày 14/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại số tiền 47.500.000 đồng cho chị Lê Thị Thúy H là phù hợp.

Đối với Bùi Thế L và Nguyễn Quang V không có tiền án, tiền sự về tội đánh bạc, tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc; số tiền đánh bạc của L và V đều dưới 5.000.000đ, chưa đủ xử lý về hình sự về tội Đánh bạc. Ngày 21/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã chuyển hồ sơ cho Công an huyện L đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đối với Bùi Thế L và Nguyễn Quang V là phù hợp.

Đối với người phụ nữ tên H và những người đến mua các số lô, số đề của Đ vào ngày 28/9/2022, Phạm Kiên Đ không biết tên, tuổi, địa chỉ. Ngoài lời khai của Phạm Kiên Đ không có tài liệu chứng cứ gì khác nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L không có cơ sở để xử lý là phù hợp.

[3] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; khoản 1, khoản 3 Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106; Điều 463 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy Đ về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

[1] Tuyên bố bị cáo: Phạm Kiên Đ phạm tội: “Đánh bạc”.

[2] Xử phạt: Bị cáo Phạm Kiên Đ 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng) để nộp vào Ngân sách Nhà nước.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Phạm Kiên Đ.

[3] Về xử lý vật chứng:

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 10.165.000đ (Mười triệu một trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).

Tịch thu tiêu hủy: 10 (mười) mảnh giấy kích thước không đều nhau, được cắt ra từ nhiều tờ lịch treo tường; 02 (hai) bút bi, vỏ bằng nhựa, mực màu xanh, đã qua sử dụng; 01 quyển lịch tờ năm 2022 được xé đến tờ lịch ghi ngày 28/9/2022.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/11/2022).

Tịch thu lưu hồ sơ: 01 tờ lịch treo tường, kích thước 15,7x25cm, một mặt có in thông tin ngày 27/9/2022, một mặt màu trắng có ghi nhiều chữ và số bằng mực màu xanh; 01 cáp đề thu giữ của Bùi Thế L; 01 cáp đề thu giữ của Nguyễn Quang Vnh.

[4] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Phạm Kiên Đ phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để đề nghị TAND tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm./.

Cỡ chữ