- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trọng T và đồng phạm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Trọng T, Đặng Minh N và Trần Phan Khánh V (tên gọi khác: Bi) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2022/HS-ST Ngày: 06-01-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
[
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tùng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hồ Sỹ Quý;
2. Ông Lê Xuân Hiếu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 89/2021/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2021/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 12 năm 2021 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Trọng T, sinh năm 1998, tại tỉnh Bạc Liêu; hộ khẩu thường trú: Ấp 9, xã P, huyện PL, tỉnh Bạc Liêu; tạm trú: Ấp K, xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1960 và bà Trần Thị B, sinh năm 1962; bị cáo có 05 chị em, lớn sinh năm 1984, nhỏ là bị cáo; vợ tên Nguyễn Thị Phượng L1, sinh năm 1998; bị cáo có 01 người con, sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt ngày 02/8/2021 và hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Dầu Tiếng; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Đặng Minh N, sinh năm 1995, tại tỉnh Tiền Giang; hộ khẩu thường trú: Ấp M, xã ML, huyện C, tỉnh Tiền Giang; tạm trú: Ấp K, xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn Ú, sinh năm 1975 và bà Trần Thị H, sinh năm 1976; vợ tên Nguyễn Thị Thúy L3, sinh năm 1995; bị cáo có 01 người con, sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt ngày 02/8/2021 và hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Dầu Tiếng; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
3. Trần Phan Khánh V (tên gọi khác: Bi), sinh năm 2000, tại tỉnh Quảng Ninh; hộ khẩu thường trú: Ấp 1, xã V1, huyện P, tỉnh Bình Dương; tạm trú: Ấp K, xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Không xác định được nhân thân lai lịch và bà Trần Thị Kim L4, sinh năm 1965; bị cáo có 02 anh em, lớn sinh năm 1988, nhỏ là bị cáo; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt ngày 02/8/2021 và hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Dầu Tiếng; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1980, hộ khẩu thường trú: Thôn 3, xã BG, huyện TB, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Trọng T, Đặng Minh N, Trần Phan Khánh V (tên gọi khác: Bi) là bạn và thường xuyên góp tiền mua ma tuý về để sử dụng chung, loại ma tuý các đối tượng sử dụng là ma tuý đá (Methamphetamine).
Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 02/8/2021, T gọi điện thoại qua mạng xã hội Facebook cho người thanh niên tên Tuấn A (không rõ nhân thân, lai lịch) thỏa thuận mua 01 gói ma túy đá với giá 1.700.000 đồng. Sau đó T gọi điện thoại cho V, rủ V góp tiền để mua ma tuý của người thanh niên tên Tuấn A về sử dụng chung thì V đồng ý. T tiếp tục gọi điện thọai cho N, nhờ N dùng xe mô tô của N chở T đi mua ma túy về sử dụng chung. Đến khoảng 12 giờ 00 phút ngày 02/8/2021, N điều khiển xe mô tô biển số 92H6-7448 chở T đến khu vực Ấp K, xã A, huyện D, nơi T và V đã hẹn trước đó. Tại điểm hẹn, V đưa cho T số tiền là 1.500.000 đồng. Sau khi V đưa tiền cho T, N điều khiển xe mô tô chở T đến khu vực thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương (nơi T và người thanh niên tên Tuấn A đã hẹn trước đó) để mua ma túy. Đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày thì người thanh niên tên Tuấn A đến, T lấy ra 1.500.000 đồng của V và góp thêm 170.000 đồng tiền của T đưa cho Tuấn A thì Tuấn A đưa cho T 01 gói ma túy được giấu trong 01 cây bắp cải, T lấy gói ma túy cất vào túi quần và vứt cây bắp cải đi. Mua ma túy xong, N điều khiển xe mô tô chở T về nhà trọ thuộc ấp K, xã A và cất xe mô tô. Sau đó T và N đi bộ ra lô cao su gần nhà trọ để sử dụng ma tuý. T gọi điện thoại rủ V cùng đến sử dụng ma tuý nhưng V ngủ quên nên không nghe máy. Lúc này, T gọi điện thoại cho một người thanh niên tên Trần Lâm Quốc Đ (không rõ nhân thân, lai lịch) để rủ Đạt cùng sử dụng ma túy thì Đạt đồng ý. Đến khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày, khi T, N và Đạt đang sử dụng ma tuý thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng phối hợp cùng Công an xã A, huyện D bắt quả tang, T và N bị bắt, riêng Đ chạy thoát.
Vật chứng thu giữ được tại hiện trường:
01 (một) gói Nylon miệng kéo dính, chứa tinh thể màu trắng, chưa xác định trọng lượng/khối lượng được niêm phong trong bì thư dán kín có chữ ký của cán bộ niêm phong Nguyễn Trung Tín, Điều tra viên Trịnh Quốc Long Khánh, người chứng kiến Nguyễn Trọng T;
01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý tự chế;
03 (ba) quẹt gas đã qua sử dụng;
01 (một) đoạn ống hút nhựa màu trắng – đỏ, một đầu được cắt nhọn, một đầu bịt kín.
Đặng Minh N tự nguyện giao nộp 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA NOUVO, màu sơn Đỏ - Đen, biển số: 92H6-7448, số máy: 5P11181434, số khung: RLCN5P110AY181432, đã qua sử dụng, có nhiều vết trầy xước.
Cùng ngày 02/8/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng đã ban hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Trần Phan Khánh V.
Quá trình làm việc tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng, các bị cáo T, N và V đã khai nhận toàn bộ hành vi như trên.
Tại bản Kết luận giám định số: 520/MT - PC09 ngày 10/8/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: Mẫu tinh thể màu màu trắng, gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 1,6461 gam, loại Methamphetamine.
Tại bản Cáo trạng số 92/CT-VKSDT-HS ngày 10/11/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương đã truy tố các bị cáo Nguyễn Trọng T, Đặng Minh N và Trần Phan Khánh V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương trong phần tranh tụng vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Nguyễn Trọng T, Đặng Minh N và Trần Phan Khánh V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng T từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.
Xử phạt bị cáo Đặng Minh N từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.
Xử phạt bị cáo Trần Phan Khánh V từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số: 520/PC09 (là mẫu vật gửi giám định trong Quyết định trưng cầu số 153/QĐ ngày 03/8/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng), có chữ ký, hình dấu đỏ như bên trong biên bản niêm phong và giấy niêm phong có chữ ký của Nguyễn Trọng T (người chứng kiến), chữ ký Nguyễn Bảo Ngọc (cán bộ giao mẫu), chữ ký Đoàn Nguyễn Thiện Quang (cán bộ giao mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương. Mẫu vật được niêm phong trong bì thư là ma túy loại Mathamphetamine có trọng lượng 1,1561 gam, đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý tự chế; 03 (ba) quẹt gas đã qua sử dụng; 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu trắng – đỏ, một đầu được cắt nhọn, một đầu bịt kín. Các vật chứng trên là công cụ được T và N dùng để sử dụng trái phép chất ma túy, đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA NOUVO, màu sơn: Đỏ - Đen, biển số: 92H6-7448, số máy: 5P11181434, số khung: RLCN5P110AY181432. Đặng Minh N khai mua chiếc xe trên của ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1980, nơi cư trú: Thôn 3, xã BG, huyện TB, tỉnh Quảng Nam vào năm 2017. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng không làm việc được với ông Tuấn do ông Tuấn đã đi khỏi địa phương, không xác định được nơi cư trú. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng đã đăng báo tìm chủ sở hữu xe mô tô trên Báo Công Lý, nhưng đến nay không xác định được chủ sở hữu hợp pháp. Xét thấy, đây là phương tiện do Đặng Minh N sử dụng để chở Nguyễn Trọng T đi mua ma túy về sử dụng, đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với người thanh niên tên Tuấn A có hành vi bán trái phép chất ma túy cho T và người thanh niên tên Đạt, sử dụng ma túy cùng Nguyễn Trọng T và Đặng Minh N. Quá trình điều tra, không xác định được nhân thân, lai lịch nên không đề nghị xử lý.
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Trọng T, Đặng Minh N và Trần Phan Khánh V thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Trọng T nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Minh N nói lời sau cùng: Trong thời gian bị tạm giữ tạm giam, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai trái, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Phan Khánh V nói lời sau cùng: Bị cáo còn trẻ, nhận thức hạn chế, nay bị cáo biết được hành vi của mình là sai trái, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Trọng T, Đặng Minh N và Trần Phan Khánh V đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội: Ngày 02/8/2021, các bị cáo Nguyễn Trọng T, Đặng Minh N và Trần Phan Khánh V cùng thống nhất đi mua ma túy về nhằm mục đích sử dụng; bị cáo Trần Phan Khánh V đưa cho bị cáo Nguyễn Trọng T số tiền 1.500.000 đồng, bị cáo Nguyễn Trọng T góp số tiền 170.000 đồng và cùng bị cáo Đặng Minh N đi mua ma túy. Khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 02/8/2021, tại Ấp K, xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương, khi các bị cáo Nguyễn Trọng T, Đặng Minh N có hành vi tàng trữ trái phép 1,6461 gam ma túy loại Methamphetamine thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng phối hợp cùng Công an xã A, huyện D bắt quả tang. Tại bản Kết luận giám định số 520/MT - PC09 ngày 10/8/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: Mẫu tinh thể màu màu trắng, gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 1,6461 gam, loại Methamphetamine. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận bản Cáo trạng số 92/CT-VKSDT-HS ngày 10/11/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Nguyễn Trọng T, Đặng Minh N và Trần Phan Khánh V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Các bị cáo là những người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức để biết hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi, mức độ phạm tội của các bị cáo Nguyễn Trọng T, Đặng Minh N và Trần Phan Khánh V là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án.
Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Trọng T đã trực tiếp rủ bị cáo Trần Phan Khánh V cùng góp tiền để mua ma túy nhằm mục đích sử dụng trái phép; bị cáo T cùng bị cáo Đặng Minh N trực tiếp đi mua, tàng trữ trái phép chất ma túy; bị cáo Đặng Minh N tuy không góp tiền cùng với bị cáo Nguyễn Trọng T và bị cáo Trần Phan Khánh V nhưng đã dùng phương tiện là xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA NOUVO, màu sơn: Đỏ - Đen, biển số: 92H6-7448, số máy: 5P11181434, số khung: RLCN5P110AY181432 để cùng bị cáo Nguyễn Trọng T đi mua ma túy và cùng có hành vi tàng trữ trái phép. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Trọng T và Đặng Minh N đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Bị cáo Trần Phan Khánh V dù không trực tiếp đi mua ma túy nhưng đã có hành vi góp tiền để cho bị cáo Nguyễn Trọng T, Đặng Minh N đi mua ma túy và cùng thống nhất tàng trữ nhằm mục đích sử dụng chung. Vì vậy, hành vi của bị cáo Trần Phan Khánh V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với vai trò đồng phạm trong vụ án.
Để đảm bảo công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, đặc biệt là tội phạm về ma túy trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương nói riêng và trên phạm vi cả nước nói chung nên cần xử lý nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm có điều kiện giáo dục và cải tạo thành người công dân tốt cho xã hội.
Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo có nghề nghiệp làm thuê, làm công nhân, có thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số: 520/PC09 (là mẫu vật gửi giám định trong Quyết định trưng cầu số 153/QĐ ngày 03/8/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng), có chữ ký, hình dấu đỏ như bên trong biên bản niêm phong và giấy niêm phong có chữ ký của Nguyễn Trọng T (người chứng kiến), chữ ký Nguyễn Bảo Ngọc (cán bộ giao mẫu), chữ ký Đoàn Nguyễn Thiện Quang (cán bộ giao mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương. Mẫu vật được niêm phong trong bì thư là ma túy loại Mathamphetamine có trọng lượng sau khi giám định 1,1561 gam, đây là vật chứng của vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý tự chế; 03 (ba) quẹt gas đã qua sử dụng; 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu trắng – đỏ, một đầu được cắt nhọn, một đầu bịt kín. Các vật chứng trên là công cụ được các bị cáo Nguyễn Trọng T và Đặng Minh N dùng để sử dụng trái phép chất ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA NOUVO, màu sơn: Đỏ - Đen, biển số: 92H6-7448, số máy: 5P11181434, số khung: RLCN5P110AY181432. Bị cáo Đặng Minh N khai nhận mua chiếc xe trên của ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1980, nơi cư trú: Thôn 3, xã BG, huyện TB, tỉnh Quảng Nam vào năm 2017. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng không làm việc được với ông T1 do ông T1 đã đi khỏi địa phương, không xác định được nơi cư trú. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng đã đăng báo tìm chủ sở hữu xe mô tô trên Báo Công Lý, nhưng đến nay không xác định được chủ sở hữu hợp pháp. Xét thấy, đây là phương tiện do bị cáo Đặng Minh N sử dụng để chở bị cáo Nguyễn Trọng T đi mua ma túy về sử dụng nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với người thanh niên tên Tuấn A có hành vi bán trái phép chất ma túy cho bị cáo Nguyễn Trọng T và người thanh niên tên Trần Lâm Quốc Đ, sử dụng ma túy trái phép cùng Nguyễn Trọng T và Đặng Minh N. Quá trình điều tra, không xác định được nhân thân, lai lịch nên không đề nghị xử lý.
Ý kiến luận tội của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa đối với các bị cáo về phần tội danh, điều khoản truy tố cũng như mức hình phạt là có căn cứ, phù hợp với các tình tiết của vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa nên được Hội đồng xét xử chấp nhận .
Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Nguyễn Trọng T, Đặng Minh N và Trần Phan Khánh V phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 47, Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 299; khoản 1, khoản 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Trọng T, Đặng Minh N và Trần Phan Khánh V (tên gọi khác: Bi) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/8/2021.
Xử phạt bị cáo Đặng Minh N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/8/2021.
Xử phạt bị cáo Trần Phan Khánh V (tên gọi khác: Bi) 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/8/2021.
2. Về vật chứng:
2.1. Tịch thu, tiêu hủy đối với:
2.1.1. 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số: 520/PC09 (là mẫu vật gửi giám định trong Quyết định trưng cầu số 153/QĐ ngày 03/8/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng), có chữ ký, hình dấu đỏ như bên trong biên bản niêm phong và giấy niêm phong có chữ ký của Nguyễn Trọng T (người chứng kiến), chữ ký Nguyễn Bảo Ngọc (cán bộ giao mẫu), chữ ký Đoàn Nguyễn Thiện Quang (cán bộ giao mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương. Mẫu vật được niêm phong trong bì thư là ma túy loại Mathamphetamine có trọng lượng sau khi giám định 1,1561 gam.
2.1.2. 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý tự chế; 03 (ba) quẹt gas đã qua sử dụng; 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu trắng – đỏ, một đầu được cắt nhọn, một đầu bịt kín.
2.2. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA NOUVO, màu sơn: Đỏ - Đen, biển số: 92H6-7448, số máy: 5P11181434, số khung: RLCN5P110AY181432.
(Các vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương đang quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 12/11/2021).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Nguyễn Trọng T, Đặng Minh N và Trần Phan Khánh V (tên gọi khác: Bi) mỗi người phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án (ngày 06 tháng 01 năm 2022). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND huyện Dầu Tiếng; - Công an H. Dầu Tiếng; - Chi cục THADS H. Dầu Tiếng; - PV 27-Công an tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - Người tham gia tố tụng; - UBND xã A, huyện D; - Lưu: Hồ sơ, văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Tùng |