- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Thị Đ - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đoàn Thị Đ phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2022/HS-ST. Ngày: 11-01-2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG, TỈNH SÓC TRĂNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Hướng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Thành Phước.
Ông Nguyễn Thanh Phong.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Trung - Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2021/TLST-HS, ngày 30 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2021/QĐXXST-HS, ngày 29 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đoàn Thị Đ, sinh năm 1973, tại: Huyện C, tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp A, thị trấn B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn C, sinh năm 1937 (chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1949 (chết); bị cáo có chồng là Nguyễn Văn D (chết), có 01 con sinh năm 1994; anh chị em ruột có 05 người, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 1981; tiền án: Không; tiền sự: Vào ngày 15/02/2021 bị Công an thị trấn B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc với số tiền 1.500.000 đồng, bị cáo đã nộp phạt xong; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23 tháng 9 năm 2021, đến nay (có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn Thị H, sinh năm: 1963; Cư trú tại: Ấp A, thị trấn B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
- Nguyễn Thị B, sinh năm: 1973; Cư trú tại: Ấp A, thị trấn B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 50 phút, ngày 03/8/2021 Đội Điều tra tổng hợp Công an huyện C, tỉnh Sóc Trăng phối hợp với Công an thị trấn B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng bắt quả tang Đoàn Thị Đ đánh bạc trái phép tại đất bờ dừa của bà Nguyễn Thị B thuộc ấp A, thị trấn B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Qua công tác điều tra, hai đối tượng tham gia đánh bạc Đoàn Thị Đ và Nguyễn Thị H đã khai nhận vào khoảng 16 giờ ngày 03/8/2021 có đến bờ dừa của bà Nguyễn Thị B thuộc ấp A, thị trấn B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng để tham gia đánh bạc ăn tiền, loại bài tây đã bỏ đi những lá bài J, Q, K, mỗi tụ bài đặt cược 5.000 đồng, khi mới đánh được 04 bàn thì bị Công an bắt quả tang Đoàn Thị Đ và Nguyễn Thị H đang đánh bạc và thu giữ số tiền trên chiếu bạc là 187.000 đồng. Kết quả xác minh Đoàn Thị Đ có một tiền sự, vào ngày 15/02/2021 có hành vi đánh bạc, ngày 19/02/2021 Công an thị trấn B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, ngày 05/3/2021 bị cáo Đ đã nộp phạt xong nhưng đến ngày 03/8/2021 bị cáo Đ tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền. Ngày 23/9/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Sóc Trăng khởi tố vụ án, khởi tố bị can Đoàn Thị Đ.
Về vật chứng đã thu giữ: Tiền Việt Nam đồng theo Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 06/12/2021, số tiền 3.127.000 đồng (ba triệu một trăm hai mươi bảy nghìn đồng), nộp vào tài khoản số 39490904757300000 tại Kho bạc Nhà nước huyện C, tỉnh Sóc Trăng; 134 (một trăm ba mươi bốn) lá bài tây đã qua sử dụng; 01 (một) hộp đựng bài tây màu đỏ; 02 (hai) chiếc chiếu bằng lát; 01 (một) tấm nylon màu xám; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A1601 đã qua sử dụng; 01 (một) ví da màu đỏ.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội; bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Tại Cáo trạng số 30/CT-VKSCLD ngày 30/11/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo Đoàn Thị Đ về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015, đã sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng giữ nguyên quyết định truy tố đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định của pháp luật để xử phạt bị cáo như sau:
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Đoàn Thị Đ từ 03 đến 04 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền đánh bạc 687.000 đồng (sáu trăm tám mươi bảy nghìn đồng) được khấu trừ vào tài khoản số 39490904757300000 tại Kho bạc Nhà nước huyện C, tỉnh Sóc Trăng theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 06/12/2021, số tiền 3.127.000 đồng (ba triệu một trăm hai mươi bảy nghìn đồng). Tịch thu tiêu hủy: 134 (một trăm ba mươi bốn) lá bài tây đã qua sử dụng; 01 (một) hộp đựng bài tây màu đỏ; 02 (hai) chiếc chiếu bằng lát; 01 (một) tấm nylon màu xám. Trả lại cho bà Nguyễn Thị B số tiền 2.440.000 đồng (hai triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng) hiện đang nộp vào tài khoản số 39490904757300000 tại Kho bạc Nhà nước huyện C, tỉnh Sóc Trăng theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 06/12/2021. Trả lại cho bị cáo Đoàn Thị Đ 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A1601 máy đã qua sử dụng và 01 (một) ví da màu đỏ.
- Tại phiên tòa bị cáo Đoàn Thị Đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H và bà Nguyễn Thị B: Thống nhất với nội dung truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung và không có ý kiến gì khác.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với lời khai nhận tội và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Đ, xét thấy lời thừa nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thể hiện là người bình thường đầy đủ năng lực hành vi, năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo Đoàn Thị Đ có một tiền sự, vào ngày 15/02/2021 có hành vi đánh bạc, ngày 19/02/2021 Công an thị trấn B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc số tiền 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng), ngày 05/3/2021 bị cáo Đ đã nộp phạt xong, nhưng đến ngày 03/8/2021 bị cáo Đ tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền là chưa hết thời hạn được xem là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính nên hành vi của bị cáo cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, Cáo trạng số 30/CT-VKS.CLD, ngày 30 tháng 11 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo về tội danh và khung hình phạt nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử cũng sẽ áp dụng một mức hình phạt tương xứng đối với bị cáo, để có tác dụng trừng trị, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Về tính chất mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được cờ bạc là một tệ nạn xã hội khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo thực hiện với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây mất trật tự trị an xã hội. Đối với bị cáo cần phải có mức hình phạt tương xứng để bị cáo có thời gian sửa chữa lỗi lầm, cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội. Để có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, khi quyết định hình phạt cần xem xét đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo như: Bị cáo Đoàn Thị Đ, không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo Đoàn Thị Đ có một tiền sự, bị Công an thị trấn B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, bị cáo Đ đã nộp phạt xong, do vậy xác định bị cáo Đ không phải là người có nhân thân tốt. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ; cần cho bị cáo Đ được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ.
Đối với việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung đề nghị xử phạt bị cáo Đoàn Thị Đ từ 03 tháng đến 04 tháng tù: Bị cáo Đ có một tiền sự, bị Công an thị trấn B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng phạt hành chính về hành vi đánh bạc, bị cáo đã nộp phạt xong. Bị cáo Đ không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xét thấy, bị cáo Đ có 02 tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là có đủ căn cứ áp dụng Điều 54 giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự để thấy chính sách khoan hồng của pháp luật Nhà nước.
Đối với hành vi của Nguyễn Thị H, tuy có tham gia đánh bài ăn thua bằng tiền với bị cáo Đ, nhưng bà H không có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc và đánh bạc với số tiền không đủ định lượng nên hành vi của bà H không cấu thành tội đánh bạc. Vì vậy, bà H đã bị Công an huyện C, tỉnh Sóc Trăng ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc đối với bà H là có căn cứ, đúng theo quy định của pháp luật.
Đối với bà Nguyễn Thị B: Theo biên bản bắt người phạm tội quả tang có mặt bà B và đã thu giữ của bà B số tiền 2.440.000 đồng (hai triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng). Qua quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Đ; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà H khai và lời khai của bà B thì bà B không có tham gia đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C không xử lý là có căn cứ, đúng theo quy định của pháp luật.
Về xử lý vật chứng:
- Số tiền 2.440.000 đồng của bà Nguyễn Thị B và 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A1601 máy đã qua sử dụng, 01 (một) ví da màu đỏ của bị cáo Đoàn Thị Đ không dùng vào mục đích đánh bạc nên xử lý: Trả lại cho bà Nguyễn Thị B số tiền 2.440.000 đồng (hai triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng); Trả lại cho bị cáo Đoàn Thị Đ 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A1601 máy đã qua sử dụng và 01 (một) ví da màu đỏ;
- Số tiền 687.000 đồng (sáu trăm tám mươi bảy nghìn đồng) dùng vào mục đích đánh bạc, nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. 134 (một trăm ba mươi bốn) lá bài tây đã qua sử dụng; 01 (một) hộp đựng bài tây màu đỏ; 02 (hai) chiếc chiếu bằng lát; 01 (một) tấm nylon màu xám là công cụ phạm tội, nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Đoàn Thị Đ phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Đoàn Thị Đ 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tự nguyện thi hành án hoặc bị bắt đi thi hành án.
3. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 687.000 đồng (một trăm tám mươi bảy nghìn đồng) là tiền đánh bạc hiện đang nộp vào tài khoản số 39490904757300000 tại Kho bạc Nhà nước huyện C, tỉnh Sóc Trăng theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 06/12/2021. Tịch thu tiêu hủy: 134 (một trăm ba mươi bốn) lá bài tây đã qua sử dụng; 01 (một) hộp đựng bài tây màu đỏ; 02 (hai) chiếc chiếu bằng lát; 01 (một) tấm nylon màu xám.
- Trả lại cho bà Nguyễn Thị B số tiền 2.440.000 đồng (hai triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng) hiện đang nộp vào tài khoản số 39490904757300000 tại Kho bạc Nhà nước huyện C, tỉnh Sóc Trăng theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 06/12/2021;
- Trả lại cho bị cáo Đoàn Thị Đ 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A1601 máy đã qua sử dụng và 01 (một) ví da màu đỏ.
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án xử buộc bị cáo Đoàn Thị Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND tỉnh Sóc Trăng; - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng; - VKSND huyện C; - Chi cục THADS huyện C; - Công an huyện C; - Cơ quan THAHS huyện C; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu: hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Chí Hướng |