vanban.org

Bản án 02/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cần Đước, tỉnh Long An Tuyên án 19/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Thái Thanh S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Thái Thanh S 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.

Tiếp tục tạm giam Thái Thanh S 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ( 19/01/2022) để đảm bảo kháng cáo, kháng nghị và thi hành án. Về xử lý vật chứng, tang vật của vụ án: tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong bên trong chứa 13,0699 gam Methamphetamine (khối lượng hoàn trả lại sau giám định); 02 (… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Thái Thanh S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Thái Thanh S 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẦN ĐƯỚC
TỈNH L
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2022/HS-ST
Ngày: 19 - 01- 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚC, TỈNH L

- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Hữu Nghĩa;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Hồng Điệp

Bà Hồ Thị Đoan Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hương – Thư ký án nhân dân huyện Đ, tỉnh L.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh L tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Diệp - Kiểm sát viên sơ cấp.

Ngày 19 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh L xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 46/2021/TLST-HS ngày 22 tháng 12 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2022/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:

Thái Thanh S, tên gọi khác: không; Sinh năm: 1988, tại: L; Nơi cư trú: Ấp Vĩnh Phước, xã P, huyện C, tỉnh L; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 8/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông: Thái Văn Ngọc (chết )và bà: Huỳnh Mỹ Lệ, (chết).

Tiền sự: Không. Tiền án: Bản án số 159/HSPT ngày 20/6/2007 của TAND tỉnh L xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chưa chấp hành phần bồi thường thiệt hại).

- Nhân thân:

+ Ngày 31/5/2004, Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh L ra Quyết định số 1416/QĐ-UB về việc đưa đối tượng vào trường giáo dưỡng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.

+ Ngày 28/3/2011, Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh L ra Quyết định số 472/QĐ-UB về việc đưa đối tượng vào trung tâm Chữa bệnh, giáo dục, Lao động xã hội về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.

- Bị cáo bị tạm giam từ ngày 02/9/2021 cho đến nay, tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ (có mặt).

Người chứng kiến

1. Anh Nguyễn Chí Th, sinh năm: 1986 (vắng mặt);

Nơi cư trú: ấp 3, xã Phước Vân, huyện Đ, tỉnh L.

2. Anh Hồ Thuận T, sinh năm: 1999 (vắng mặt);

Nơi cư trú: ấp 3, xã Phước Vân ,huyện Đ, tỉnh L

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về hành vi của bị cáo: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 02/9/2021, Thái Thanh S chạy xe đạp từ nhà ở ấp Vĩnh Phước, xã P, huyện C, tỉnh L đến ngã tư Quán Chuối thuộc xã Bình Chánh, huyện Bình Chánh, T Phố Hồ Chí Minh để gặp người đàn ông tên Lộc (không rõ địa chỉ) để mua 3.000.000 đồng ma túy về nhằm mục đích để sử dụng. Đến nơi, S đưa cho Lộc 3.000.000 đồng còn Lộc đưa cho S 03 gói ma túy. Lúc này, S cầm 03 gói ma túy trên tay phải, còn tay trái lái xe chạy về nhà. Khi đến cầu vượt thuộc xã Tân Quý Tây, huyện Bình Chánh thì S lấy 02 gói ma tuý nhét vào trong ống tay cầm bên trái và nhét gói ma túy còn lại vào ống tay cầm bên phải rồi lấy 02 ống nhựa gắn vào 02 ống tay cầm của xe đạp để giấu 03 gói ma túy trên. Sau đó, S chạy xe đến nhà chú ruột tên Thái Văn Út ở ấp Cầu Tràm, xã Long Trạch để lấy tiền và thức ăn nhưng trên đường đi phải tránh chốt kiểm dịch vì thời điểm này đang thực hiện Chỉ thị 16 của Thủ tướng Chính phủ về việc giãn cách xã hội nên S phải đi vòng vào đường bờ kinh Năm Du thuộc Ấp 3, xã Phước Vân thì bị lực lượng công an tuần tra phát hiện trong 02 ống tay cầm xe đạp của S có 03 gói ma túy nên tiến hành lập biên bản và tạm giữ tang vật gồm: 03 (ba) gói nylon bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng là ma túy gồm 02 gói nhỏ và 01 gói lớn; 01 (một) xe đạp màu xanh (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động Samsung màu trắng, loại cảm ứng (màn hình bị bể); 02 (hai) quẹt gas; 01 (một) CMND số 301368324 mang tên Thái Th S; Tiền Viện Nam 600.000 đồng.

Tại Kết luận giám định số 741/KLGĐ, ngày 08/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh L kết luận: Tinh thể rắn màu trắng đựng trong 03 (ba) túi nylon, được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng: 14,0205 gam, loại: Methamphetamine.

Tại phiên tòa, bị cáo Thái Thanh S khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo bị truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng, không oan, sai. Bị cáo không có ý kiến về Bản kết luận giám định số số 741/KLGĐ, ngày 08/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh L kết luận: Tinh thể rắn màu trắng đựng trong 03 (ba) túi nylon, được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng: 14,0205 gam, loại: Methamphetamine. Bị cáo nghiện ma túy và do thực hiện giãn cách xã hội nên mua số lượng ma túy nhiều để sử dụng lâu dài chứ không nhằm mua để bán lại cho ai.

Lời trình bày của những người chứng kiến tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của bị cáo và các chứng cứ có trong hồ sơ được thẩm tra khách quan tại phiên tòa.

Tại bản Cáo trạng số 02/CT-VKS ngày 20/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố Thái Th S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Thái Thanh S đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều 249 Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Thái Thanh S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Thái Thanh S từ 07 đến 08 năm tù. Miễn phạt tiền cho bị cáo Thái Thanh S. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ Luật hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong bên trong chứa 13,0699 gam Methamphetamine (khối lượng hoàn trả lại sau giám định); 02 (hai) quẹt gas và tịch thu sung công quỹ nhà Nước: 01 (một) xe đạp màu xanh (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động Samsung màu trắng, loại cảm ứng (màn hình bị bể).

Ý kiến của bị cáo về quyết định truy tố của Viện kiểm sát: bị cáo không tranh luận.

Bị cáo có lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét nội dung vụ án: Qua tranh tụng tại phiên tòa có đủ căn cứ để Hội đồng xét xử khẳng định: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 02/9/2021, Thái Thanh S là đối tượng nghiện ma túy chạy xe đạp từ nhà ở ấp Vĩnh Phước, xã P, huyện C, tỉnh L đến ngã tư Quán Chuối thuộc xã Bình Chánh, huyện Bình Chánh, Thành Phố Hồ Chí Minh để gặp người đàn ông tên Lộc (không rõ địa chỉ) mua 3.000.000 đồng ma túy về nhằm mục đích để sử dụng. Đến khoảng 15 giờ 45 phút cùng ngày, khi đến ấp 3, xã Phước Vân, huyện Đ, tỉnh L, Thái Thanh S bị Công an kiểm tra, phát hiện S có hành vi cất giấu 03 (ba) gói ma túy, tổng khối lượng là 14,0205 gam, loại: Methamphetamine trong 02 ống tay cầm xe đạp của S nhằm mục đích sử dụng.

Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định như sau:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

.....

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

............

g) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR – 11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;

....”.

Như vậy, hành vi của bị cáo Thái Thanh S đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa, tuyên bố bị cáo Thái Thanh S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình như đề nghị của đại diện viện kiểm sát.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bản án số 159/HSPT ngày 20/6/2007 của TAND tỉnh L xử phạt bị cáo 01 năm từ về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chưa chấp hành xong phần dân sự lại tiếp tục phạm tội nên thuộc trường hợp tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét hình phạt: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy; xâm phạm trật tự an toàn xã hội; tác động xấu đến nếp sống văn minh lành mạnh; gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu (Ngày 31/5/2004, Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh L ra Quyết định số 1416/QĐ-UB về việc đưa đối tượng vào trường giáo dưỡng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 28/3/2011, Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh L ra Quyết định số 472/QĐ-UB về việc đưa đối tượng vào trung tâm Chữa bệnh, giáo dục, Lao động xã hội về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy). Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm mới đủ sức răn đe phòng ngừa chung, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật; đồng thời giáo dục bị cáo T người có ích cho gia đình và xã hội. Với tính chất hành vi, khả năng nhận thức của bị cáo, mức độ hậu quả mà bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Do bị cáo không có thu nhập nên miễn phạt tiền cho cho bị cáo S như đề nghị của đại diện viện kiểm sát.

Về vật chứng, tang vật của vụ án: 01 (một) gói niêm phong bên trong chứa 13,0699 gam Methamphetamine (khối lượng hoàn trả lại sau giám định); 02 (hai) quẹt gas; 01 (một) xe đạp màu xanh (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động Samsung màu trắng, loại cảm ứng (màn hình bị bể) S dùng vào việc phạm tội. Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 của Bộ Luật hình sự: tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong bên trong chứa 13,0699 gam Methamphetamine (khối lượng hoàn trả lại sau giám định); 02 (hai) quẹt gas và tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe đạp màu xanh (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động Samsung màu trắng, loại cảm ứng (màn hình bị bể). Vật chứng hiện nay Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đ, tỉnh L đang tạm giữ theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/12 /2021.

Về án phí: Bị cáo Thái Thanh S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm g, khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, Điều 51; điểm h khoản 1, Điều 52; Điều 38; Điều 50; Điều 47 của Bộ luật Hình sự;

Áp dụng Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 329 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên bố: Bị cáo Thái Thanh S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Thái Thanh S 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 02/9/2021.

Tiếp tục tạm giam Thái Thanh S 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ( 19/01/2022) để đảm bảo kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.

Về xử lý vật chứng, tang vật của vụ án: tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong bên trong chứa 13,0699 gam Methamphetamine (khối lượng hoàn trả lại sau giám định); 02 (hai) quẹt gas và tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) xe đạp màu xanh (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động Samsung màu trắng, loại cảm ứng (màn hình bị bể). Vật chứng hiện nay Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đ, tỉnh L đang tạm giữ theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/12 /2021.

Về án phí: Bị cáo Thái Thanh S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Đại diện hợp pháp người bị hại;

- Người bào chữa (Nếu có);

- Người có QLNVLQ;

- VKSND huyện Đ;

- TAND tỉnh L;

- VKSND tỉnh L;

- Cơ quan CSĐT CA huyện Đ;

- Nhà tạm giữ Công an huyện Đ;

HUỲNH HỮU NGHĨA

- Cơ quan Thi hành án Hình sự;

- Cơ quan Thi hành án Dân sự;

- Lưu: Án văn, Hồ sơ vụ án;

Hướng dẫn sử dụng mẫu số 27-HS:

Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại các điều 254, 260 và 423 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Tòa án khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo:

(1) và (4) nếu là Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, T phố thuộc tỉnh thì ghi tên Tòa án nhân dân quận (huyện, thị xã, T phố) gì thuộc tỉnh, T phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An); nếu là Tòa án nhân dân tỉnh, T phố trực thuộc trung ương thì ghi tên Tòa án nhân dân tỉnh, T phố trực thuộc trung ương (ví dụ: Tòa án nhân dân T phố Hà Nội); nếu là Tòa án quân sự khu vực thì ghi tên Tòa án quân sự khu vực gì thuộc quân khu, quân chủng nào; nếu là Tòa án quân sự quân khu, quân chủng thì ghi tên Tòa án quân sự quân khu, quân chủng (ví dụ: Tòa án quân sự Quân khu Thủ đô).

(2) ô thứ nhất ghi số Bản án, ô thứ hai ghi năm ra Bản án (ví dụ: 16/2017/HS-ST).

(3) ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày hoặc nghị án kéo dài.

(5) nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi đầy đủ họ tên của

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, bỏ dòng Thẩm phán..., đối với Hội thẩm nhân dân (quân nhân) chỉ ghi đầy đủ họ tên của hai Hội thẩm nhân dân (quân nhân); nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi đầy đủ họ tên của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, họ tên của

Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Cần chú ý không ghi chức vụ của Thẩm phán; đối với vụ án hình sự thông thường thì không ghi chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân); đối với vụ án hình sự có bị cáo là người dưới 18 tuổi thì ghi nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Nếu vụ án do Tòa án quân sự giải quyết thì không ghi Ông (Bà) mà ghi cấp bậc quân hàm.

(6) ghi đầy đủ họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).

(7) ghi tên Viện kiểm sát như hướng dẫn tại (1); ghi họ tên Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.

(8) trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ Trong các (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi Từ ngày đến ngày (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).

(9) nếu vụ án được xét xử tại trụ sở Tòa án thì ghi như hướng dẫn tại mục (1) (4). Nếu vụ án được xét xử lưu động thì ghi địa điểm nơi diễn ra phiên tòa.

(10) nếu xét xử kín thì thay cụm từ công khai bằng từ kín.

(11) và (12) ghi đầy đủ họ tên bị cáo và các bí danh, tên thường gọi khác (nếu có); nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh tính đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 8 tháng 15 ngày); nếu bị cáo trên 18 tuổi thì ghi ngày, tháng, năm sinh hoặc tuổi; ghi nơi đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, nơi sinh sống của bị cáo. Đối với tiền sự thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị xử lý đó tính đến ngày phạm tội chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật. Đối với tiền án thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị kết án đó tính đến ngày phạm tội chưa được xoá án. Về nhân thân ghi án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật cụ thể các lần đó và ghi rõ là các án tích, xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật đó đã được xoá. Trường hợp bị cáo là pháp nhân thương mại thì ghi tên, địa chỉ trụ sở, tên người đại diện theo pháp luật, tiền án, tiền sự của pháp nhân thương mại và các thông tin cần thiết khác; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(13) ghi ngày bị cáo bị bắt, tạm giam; nếu trước đó bị cáo đã bị tạm giữ, bị bắt, tạm giam, thì ghi ngày bị tạm giữ, ngày bị bắt, tạm giam và ngày được cho tại ngoại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(14) và (15) nếu bị cáo có người đại diện hợp pháp th́ ghi rõ họ tên của bị cáo đó (ví dụ: Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn A). Sau chữ là ghi quan hệ như thế nào với bị cáo (ví dụ: là bố của bị cáo); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(16) nếu có người bào chữa thì ghi đầy đủ họ tên của người bào chữa và họ tên của bị cáo được bào chữa; nếu người bào chữa là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào (ví dụ: Ông Trần B, Luật sư Văn phòng luật sư Vạn Xuân thuộc Đoàn luật sư tỉnh H bào chữa cho Nguyễn Văn C); nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bào chữa (ví dụ: Bà Lê Thị M, bào chữa viên nhân dân công tác tại Hội luật gia tỉnh M bào chữa cho Nguyễn Văn D); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(17), (18), (19), (20), (21), (22), (23) và (24) nếu có người nào tham gia tố tụng thì ghi đầy đủ họ tên, tuổi, nơi cư trú của người đó. Trường hợp bị hại là người bị xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự và là người dưới 18 tuổi, thì phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh của bị hại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(25) nếu bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có người bảo vệ quyền lợi cho họ, thì ghi đầy đủ họ tên của họ theo thứ tự; nếu người bảo vệ quyền lợi của đương sự là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào; nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bảo vệ quyền lợi cho đương sự; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi có mặt và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi vắng mặt.

(26) nếu có người tham gia tố tụng là người làm chứng thì ghi đầy đủ họ tên; nếu người tham gia tố tụng là người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật thì ghi đầy đủ họ tên, cơ quan công tác.

(27) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

(28) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ thự trong dấu [ ].

(29) tùy từng trường hợp mà ghi rõ căn cứ pháp luật để ra quyết định.

(30) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

(31) phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi đầy đủ họ tên của các T viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các bị cáo, các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì ghi như sau:

Cỡ chữ