- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!! HUYỆN!AN!BIÊN! ! TỈNH!KIÊN!GIANG! | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2022/HS-ST Ngày 06-01-2022 |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!AN!BIÊN,!TỈNH!KIÊN!GIANG!
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thị Gấm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Đức Hoài và ông Hà Minh Hằng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Việt - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diệnViện Kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Hải Đăng - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai, vụ án hình sự thụ lý số 33/2021/TLST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2021/HSST-QĐ ngày 04 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đào!Văn!C, sinh năm 1990 tại huyện A M, tỉnh Kiên Giang; nơi cư trú: Ấp X, xã Đ H, huyện A M, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Văn T và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1965; có vợ tên Lê Thu T, sinh năm 1998 và một người con sinh năm 2017; tiền án: Ngày 06/5/2009 bị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử 02 năm tù về tội “Cướp tài sản”, đến ngày 28/8/2010 chấp hành xong hình phạt tù và được trả tự do theo giấy chứng nhận: 407/GCN; tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện An Biên từ ngày 24/4/2020 cho đến nay (Có mặt).
Người làm chứng :
- Anh Trần Phước T, sinh năm 1976 (Vắng mặt).
Trú tại: Khu phố C, thị trấn T B , huyện A B, tỉnh Kiên Giang.
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 15 phút ngày 23/4/2021, nhận được tin báo Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện phối hợp với Công an xã Đông Thái, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang, kiểm tra phát hiện bắt quả tang và thu giữ của Đào Văn C, hộ khẩu thường trú ấp X, xã Đ H, huyện A M, tỉnh Kiên Giang, cất giấu trong túi quần Jean bên phải 01 (một) bịch nylon có rãnh gài viền màu đỏ, kích thước 04cm x 06cm bên trong có chứa 02 (hai) bịch nylon được hàn kín, bên trong có chứa các hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất nghi là chất ma túy đã niêm phong thu giữ.
Đào Văn C khai nhận. Khoảng 19 giờ 30 ngày 23/4/2021, Đào Văn C đến tiệm máy bắn cá của anh Trần Phước T, thuộc khu phố 2, thị trấn Thứ Ba, huyện An Biên, tại đây C gặp tên K (không rỏ lai lịch) là đối tượng bán ma túy, C mua 01 (một) bịch ma túy với giá 1.000.000đ (một triệu đồng). Sau khi mua được ma túy C về nhà chiết ra thành 02 (hai) bịch nhỏ hàn kín cất giấu trong người, C đi xe hon đa ôm đến quán Thủy Mộc thuộc khu phố 2, thị trấn Thứ Ba uống cà phê cùng. Uống cà phê xong C đi xe hon đa ôm về ấp 7 Chợ, xã Đông Thái để hớt tóc thì bị bắt. !
Tại Kết luận giám định số 428/KL-KTHS ngày 28/4/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận:
Các hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất chứa trong 02 (hai) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,6871 gam.!
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP, ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Vật chứng của vụ án gồm: 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong có chữ ký ghi họ tên: Điều tra viên Trần Thanh Sỏi, bị can Đào Văn C, Phạm Trung D, Phan Ngọc Đ và các hình dấu tròn màu đỏ có nội dung “ Công an xã Đông Thái, Công an huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang”, bên trong 01 (một) bịch nylon có rãnh gài viền màu đỏ, kích thước 04cm x 06cm bên trong có chứa 02 (hai) bịch nylon được hàn kín, bên trong có chứa các hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất.
Đối với đối tượng tên Khỏe là người bán ma túy cho Đào Văn C, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyên An Biên đã tiến hành xác minh nhân thân, lai lịch theo lời khai của Đào Văn C, nhưng không có kết quả. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện An Biên tiếp tục điều tra xác minh khi nào có đủ cơ sở sẽ tiến hành xử lý sau. !
Tại bản Cáo trạng số 34/CT-VKSAB ngày 14 tháng 7 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Đào Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.!
Tại!phiên!tòa!hôm!nay:!
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:!
Về tội danh, đề nghị tuyên bố bị cáo Đào Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.!
Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự tuyên xử bị cáo Đào Văn C từ 18 (Mười tám) tháng đến 24 (Hai mươi bốn) tháng tù.
Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong có chữ ký ghi họ tên: Điều tra viên Trần Thanh Sỏi, bị can Đào Văn C, Phạm Trung D, Phan Ngọc Đ và các hình dấu tròn màu đỏ có nội dung “ Công an xã Đông Thái, Công an huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang”, bên trong 01 (một) bịch nylon có rãnh gài viền màu đỏ, kích thước 04cm x 06cm bên trong có chứa 02 (hai) bịch nylon được hàn kín, bên trong có chứa các hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất.
Bị cáo Đào Văn C thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì.
Bị cáo Đào Văn C nói lời sau cùng: Bị cáo đã biết năn năng, xin Hội đồng xét xử xử bị cáo với mức án nhẹ để bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện An Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi thực hiện tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa đã làm rõ:
Khoảng 19 giờ 30 ngày 23/4/2021, Đào Văn C đến tiệm máy bắn cá của anh Trần Phước T, thuộc khu phố 2, thị trấn Thứ Ba, huyện An Biên, tại đây C gặp tên Khỏe (không rỏ lai lịch) là đối tượng bán ma túy. C mua 01 (một) bịch ma túy với giá 1.000.000đ (một triệu đồng). Sau khi mua được ma túy C về nhà chiết ra thành 02 (hai) bịch nhỏ hàn kín cất giấu trong người, C đi xe hon đa ôm đến quán Thủy Mộc thuộc khu phố 2, thị trấn Thứ Ba uống cà phê. Uống cà phê xong C đi xe hon đa ôm về ấp 7 Chợ, xã Đông Thái để hớt tóc thì bị bắt quả tang. Chất ma túy đã được giám định là loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,6871 gam. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên truy tố bị cáo Đào Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng người, đúng tội.
Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi mà pháp luật cấm và vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì ham chơi, đua đòi mà bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng trái phép. Bị cáo biết rõ tác hại của việc sử dụng trái phép sẽ gây ra nhiều hệ lụy cho xã hội, gây ảnh hưởng sức khỏe, kinh tế, còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm và hành vi vi phạm pháp luật khác, làm mất an ninh trật tự xã hội và bất bình trong nhân dân. Do đó, cần xử bị cáo một mức án nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả bị cáo đã gây ra để bị cáo có đủ thời gian cải tạo, giáo dục trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội, đồng thời cũng nhằm phòng ngừa chung cho những người khác có ý định tương tự như bị cáo.
[3] Xét về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại tòa hôm nay, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra biết ăn năn hối cải nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét quyết định hình phạt cho bị cáo.
[4] Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về biện pháp tư pháp:
Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong có chữ ký ghi họ tên: Điều tra viên Trần Thanh Sỏi, bị can Đào Văn C, Phạm Trung D, Phan Ngọc Đ và các hình dấu tròn màu đỏ có nội dung “ Công an xã Đông Thái, Công an huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang”, bên trong 01 (một) bịch nylon có rãnh gài viền màu đỏ, kích thước 04cm x 06cm bên trong có chứa 02 (hai) bịch nylon được hàn kín, bên trong có chứa các hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất.
[6] Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có cơ sở, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT!ĐỊNH:!
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Đào!Văn!C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.!
1.!Về!hình!phạt:!Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Đào Văn C 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 24/4/2021.!
2.!Về!hình!phạt!bổ!sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.!
3.!Về!biện!pháp!tư!pháp:!Áp dụng điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong có chữ ký ghi họ tên: Điều tra viên Trần Thanh Sỏi, bị can Đào Văn C, Phạm Trung D, Phan Ngọc Đ và các hình dấu tròn màu đỏ có nội dung “ Công an xã Đông Thái, Công an huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang”, bên trong 01 (một) bịch nylon có rãnh gài viền màu đỏ, kích thước 04cm x 06cm bên trong có chứa 02 (hai) bịch nylon được hàn kín, bên trong có chứa các hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất.!
Các vật chứng nêu trên được thể hiện theo quyết định chuyển giao vật chứng số 27/QĐ-VKSHAB ngày 14/7/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.!
4.! Về! án! phí: Buộc bị cáo Đào Văn C chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
5.!Quyền!kháng!cáo:!Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. !
Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.!
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện An Biên; - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang; - THA Dân sự, Hình sự; - NTG; CA huyện An Biên; - Người TGTT; - Lưu hồ sơ, văn phòng (VIET).! !!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!Thị!Gấm!! | TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM! THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA! (Đã ký tên và đóng dấu) |