vanban.org

Bản án 02/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Kon Tum Tuyên án 24/01/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/01/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum.

Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2021/HS-ST ngày 22/10/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh KonTum về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị Hoàng T. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Hoàng T phạm tội “Đánh bạc”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm Bản án 20/2021/HS-ST Tuyên án 22/10/2021
Phúc thẩm — đang xem Bản án 02/2022/HS-PT Tuyên án 24/01/2022

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự phúc thẩm Nguyễn Thị Hoàng T phạm tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KON TUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2022/HS-PT
Ngày: 24-01-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thành.

Các Thẩm phán: Ông Ngô Văn Minh và Bà Dương Thị Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lương, Thư ký Tòa án tỉnh Kon Tum.

- Đại diện VKSND tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Lam, Kiểm sát viên.

Trong ngày 24/01/2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 65/2021/TLPT-HS ngày 26 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo Nguyễn Thị Hoàng T, do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2021/HS-ST ngày 22/10/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Tô.

- Bị cáo bị kháng nghị:

Nguyễn Thị Hoàng T, sinh ngày 24/10/1982 tại tỉnh Kon Tum; Nơi cư trú: Khối 5 thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hoàng L, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1963; có chồng là Nguyễn Thanh L, sinh năm 1980 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2008 và con nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/01/2021 đến ngày 03/02/2021 được thay thế biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo vắng mặt tại phiên tòa.

- Các bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng nghị: Đặng Thị L1, Huỳnh Thị L2.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

* Vụ đánh bạc xảy ra ngày 12/9/2020 tại khối 9, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum.

Vào khoảng đầu tháng 9/2020, Nguyễn Thị Hoàng T đến uống nước mía của Đặng Thị L1 bán tại vỉa hè trước nhà mình. Tại đây L1 hỏi T có biết chỗ nào

- 1 -

ghi đề thì chỉ cho L1 chơi. T nói “nếu cô ghi ít thì cháu nhận cho” và đồng ý nhận ghi số đề cho L1.

Ngày 12/9/2020, L1 đã tổ chức đánh bạc bằng hình thức ghi số đề cho khách căn cứ vào kết quả xổ số của công ty TNHH MTV XSKT Quảng Ngãi để xác định kết quả thắng thua bằng tiền, L1 đã ghi phơi đề cho 09 người chơi tại quán bán nước mía và vé số của mình ở vỉa hè trước số nhà 484 đường H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum với số tiền ghi trên phơi đề là 7.284.000 đồng (bảy triệu hai trăm tám mươi bốn nghìn đồng), trong đó số tiền ghi số đề cho 09 người chơi là 6.676.000 đồng và L1 tự ghi đề cho mình là 608.000 đồng nhưng L1 không nói cho T biết L1 đã ghi đề cho 09 người này và T không biết việc L1 nhận ghi đề cho người khác rồi chuyển cho mình. Khi người chơi đến ghi đề L1 nhận tiền và ghi phơi đề vào một quyển vở ô ly sau đó L1 dùng số điện thoại 0973948194 của mình gọi đến số điện thoại 0968100495 của Nguyễn Thị Hoàng T đọc nội dung chuyển tịch đề cho T.

Sau khi đã trừ tiền hoa hồng cho khách, số tiền trên tịch đề của những người mà L1 đã thu tiền là 6.046.000 đồng (không tính số tiền của Quàng Văn N 490.000 đồng và bị cáo L1 490.000 đồng). Bị cáo L1 đã thu của khách số tiền 4.726.000 đồng sau đó chuyển tịch đề cho T bằng 70% số tiền L1 đã thu là 4.292.660 đồng. Số tiền L1 thu lợi được từ việc tổ chức đánh bạc là 434.000 đồng.

* Vụ đánh bạc xảy ra ngày 28/01/2021 tại khối 9, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum.

Vào ngày 24/01/2021, Nguyễn Thị Hoàng T đến uống cà phê của Huỳnh Thị L2 bán tại vỉa hè trước nhà mình. Tại đây L2 hỏi T có biết chỗ nào ghi đề thì chỉ cho L2 chơi. T nói nếu chị ghi ít thì em nhận cho và đồng ý nhận ghi số đề cho L2. Ngày 28/01/2021, L2 đã ghi đề cho 05 người chơi với tổng số tiền ghi trên phơi để là 10.680.000 đồng và tự ghi cho bản thân mình số tiền là 720.000 đồng, căn cứ vào kết quả xổ số của công ty xổ số kiến thiết Bình Định để xác định kết quả thắng thua bằng tiền nhưng L2 không nói cho T biết L2 đã ghi đề cho 05 người này, T cũng không biết việc L2 nhận ghi đề cho 05 người chơi khác rồi chuyển tịch đề cho mình. Sau khi ghi đề cho khách L2 đã sử dụng số điện thoại 0376170678 của mình nhắn tin chuyển tịch để vào số điện thoại 0862221317 của T.

Tổng số tiền tịch đề L2 chuyển cho T là 11.400.000 đồng trong đó L2 đã thu tiền của khách là 7.526.000 đồng (không tính số tiền chưa thu của Nguyễn Thị P, Vi Thị Hoàng N và của L2). Sau đó L2 đã chuyển số tiền ghi đề cho T (ở tin nhắn thứ nhất) thể hiện trên tịch đề là 6.750.000 đồng, số tiền thực tế L2 đã chuyển cho T vào buổi chiều cùng ngày là 3.889.000 đồng. Như vậy, số tiền thu lợi của L2 là 847.000 đồng (trong đó tin nhắn 1 là 493.000 đồng, tin nhắn 3 là 354.000 đồng), số tiền thu lợi của T là 3.889.000 đồng.

Kết quả xổ số ngày 28/01/2021 thì số tiền trúng đề là 1.750.000 đồng. Tổng số tiền L2 sử dụng để đánh bạc với T là 13.150.000 đồng (mười ba triệu một trăm năm mươi ngàn đồng).

- 2 -

Tổng số tiền Nguyễn Thị Hoàng T đánh bạc hai lần với L1, L2 là 20.434.000 đồng.

Cách thức tổ chức đánh bạc, đánh bạc bằng hình thức ghi số đề ăn thua bằng tiền với các hình thức chơi đầu, cuối; chơi bao lô; chơi đá số; chơi ba càng với tỷ lệ ăn thua khác nhau, các mức tiền do người chơi tự chọn.

Số tiền ghi cho khách trên phơi theo nguyên tắc cứ 100.000 đồng sau khi chiết khấu, L1, L2 thu của khách 80.000 đồng, sau đó chuyển cho T 71.000 đồng và hưởng tiền hoa hồng là 9.000 đồng.

Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2021/HS-ST ngày 22/10/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Tô đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Hoàng T phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 36; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hoàng T 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ đi thời hạn tạm giữ quy đổi (05x3=15 ngày). Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt còn lại 17 tháng 15 ngày.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo Đặng Thị L1, Huỳnh Thị L2, tuyên về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

* Ngày 18/11/2021 Viện kiểm sát nhân tỉnh Kon Tum có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 148/QĐ-VKS-P7 kháng nghị một phần bản án hình sự sơ thẩm số 20/2021/HS-ST ngày 22/10/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Tô với nội dung: Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng:

- Không xác định bị cáo Nguyễn Thị Hoàng T phạm tội lần đầu; không vận dụng Nghị quyết 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 của Hội đồng Thẩm phán – Tòa án nhân dân tối cao để giải quyết vụ án.

- Sửa án về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị Hoàng T, chuyển từ hình phạt Cải tạo không giam giữ cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo sang hình phạt tù có thời hạn theo quy định tại Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum Giữ nguyên kháng nghị và đề nghi HĐXX xử phạt bị cáo 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án, và được trừ thời hạn đã tạm giam, tạm giữ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum trong thời hạn và đúng quy định. Tại phiên tòa hôm nay, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum giữ nguyên nội dung kháng nghị.

- 3 -

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo vắng mặt và có đơn xin hoãn phiên toà lần 2 vì bị bệnh; tuy nhiên qua xác minh tại cơ sở y tế thì: Bị cáo nhập viện ngày 11/01/2022 (ngày hoãn phiên toà lần thứ nhất) và ra viện cùng ngày đến ngày xét xử lần này bị cáo nhập viện lúc 17 giờ 30 phút ngày 23/1/2022 và đã ra viện vào lúc 07 giờ 40 phút ngày 24/1/2022; nhưng đến chiều ngày 24/01/2022 bị cáo vẫn vắng mặt; do vậy, lý do vắng mặt của bị cáo không được coi là do trở ngại khách quan hay bất khả kháng; vì thế, HĐXX quyết định xét xử vắng mặt đối với bị cáo.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Bị cáo Nguyễn Thị Hoàng T tham gia trong vụ án với vai trò là chủ đề, là người trực tiếp nhận các phơi đề do bị cáo Đặng Thị L1, bị cáo Huỳnh Thị L2 chuyển đến và chịu trách nhiệm chi tiền thắng cược.

Bị cáo nhận ghi số đề trong ngày 12/9/2020 của bị cáo Đặng Thị L1 với số tiền là 7.284.000 đồng; nhận ghi số đề trong ngày 28/01/2021 của bị cáo Huỳnh Thị L2 với số tiền 13.150.000 đồng. Bị cáo phải chịu chung số tiền đánh bạc của 02 lần với hai bị cáo L1 và L2 tổng cộng là 20.434.000 đồng. Vì vậy, cả ba bị cáo bị xét xử về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[3] Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum, thấy rằng:

Bị cáo T nhận ghi số đề cho bị cáo L1, bị cáo L2, số tiền ghi đề mỗi lần đều trên 5.000.000 đồng, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Cấp sơ thẩm nhận định bị cáo lần đầu phạm tội là không đúng quy định (tại mục 4, phần I, Công văn số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao cũng đã có hướng dẫn cụ thể về nội dung này). Bản án sơ thẩm viện dẫn Nghị quyết 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 của Hội đồng Thẩm phán – Tòa án nhân dân tối cao để giải quyết vụ án là không đúng quy định vì Nghị quyết này đã hết hiệu lực thi hành toàn bộ theo Quyết định số 355/QĐ-TANDTC ngày 08/10/2021 của Tòa án nhân dân tối cao.

Xem xét nội dung kháng nghị về hình phạt đối với bị cáo, thấy rằng bị cáo T là người khởi xướng và với vai trò là chủ đề, có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” nhưng cấp sơ thẩm xử phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo là chưa nghiêm, hình phạt nhẹ, chưa đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm đánh bạc trong tình hình hiện nay. Vì vậy, cần chuyển từ hình phạt Cải tạo không giam giữ cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Thị Hoàng T sang hình phạt tù có thời hạn theo quy định tại Điều 38 Bộ luật hình sự mới đủ giáo dục, cải tạo bị cáo và góp phần răn đe, phòng ngừa chung.

- 4 -

Từ những phân tích trên, HĐXX chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị Hoàng T.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị HĐXX không xem xét. Ngoài ra, cấp sơ thẩm xác định bị cáo L1, T có công sức đóng góp tiền 3.000.000 đồng ủng hộ quỹ phòng chống Covid cho địa phương là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là không chính xác vì vậy cần nghiêm túc rút kinh nghiệm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum.

Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2021/HS-ST ngày 22/10/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh KonTum về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị Hoàng T.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Hoàng T phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hoàng T 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt để thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 28/01/2021 đến ngày 03/02/2021.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ