- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Trúc Linh - Nguyễn Minh Phong"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NGÃ BẢY TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2022/HNGĐ-ST Ngày: 22/02/2022. V/v: “Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NGÃ BẢY
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Cương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thanh Phương.
2. Bà Nguyễn Thị Kim Tước.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Thẩm - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Ngã Bảy.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ngã Bảy tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Hồng Tuyết – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ngã Bảy mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 172/2021/HNGĐ-ST, ngày 24/12/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 07/02/2022, về việc "Xin ly hôn", giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị Trúc L, sinh năm: 1981. (Có mặt)
Trú tại: Khu vực M, phường NB, thành phố NB, tỉnh Hậu Giang.
2. Bị đơn: Nguyễn Minh P, sinh năm: 1979. (Vắng mặt)
Trú tại: Khu vực M, phường NB, thành phố NB, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 03/11/2021 và tại phiên tòa nguyên đơn Nguyễn Thị Trúc L trình bày:
Chị L và anh P tự quen biết, tìm hiểu nhau một thời gian sau đó quyết định đi đến hôn nhân. Anh chị được hai bên gia đình tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn năm 2009 tại Ủy ban nhân dân phường Ngã Bảy, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Thời gian đầu cuộc sống gia đình hạnh phúc; đến năm 2019 chị L bị tai nạn giao thông nên việc đi lại khó khăn, không chăm sóc được cho gia đình nên anh P xua đuổi chị L ra khỏi nhà. Chị L đã về nhà cha mẹ ruột sinh sống từ năm 2019, anh P có đến khuyên chị L về sống chung nhưng chị L không đồng ý nên anh P dùng lời lẽ xúc phạm danh dự, nhân phẩm của chị L sau đó kêu chị L làm đơn ly hôn. Hiện nay chị L và anh P mỗi người có một cuộc sống riêng, chị L nhận thấy không còn tình cảm vợ chồng nên yêu cầu được ly hôn với anh P.
Về con chung: Có 03 con chung tên Nguyễn Nguyên P1 (giới tính: Nam), sinh ngày 30/01/2009; Nguyễn Nguyên B1 (giới tính: Nam), sinh ngày 22/02/2012 và Nguyễn Nguyên K1 (giới tính: Nam), sinh ngày 19/8/2015. Hiện nay các con chung đang sống với chị L, sau khi ly hôn chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng các con chung, không yêu cầu anh P cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Bị đơn trình bày: Bị đơn thừa nhận hoàn toàn lời trình bày của nguyên đơn về năm kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn, con chung, tài sản chung, nợ chung là đúng. Bị đơn không đồng ý ly hôn với nguyên đơn vì còn thương vợ con, bị đơn muốn hàn gắn lại hạnh phúc gia đình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ngã Bảy tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Đối với các đương sự: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều và Điều 72 và của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị Trúc L được ly hôn anh Nguyễn Minh P; giao ba con chung cho chị L được tiếp tục nuôi dưỡng, anh P chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung; tài sản chung, nợ chung không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật: Chị Nguyễn Thị Trúc L khởi kiện xin ly hôn với anh Nguyễn Minh P, đây là vụ kiện tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và anh Nguyễn Minh P có nơi cư trú tại thành phố Ngã Bảy nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Ngã Bảy theo quy định tại Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn Nguyễn Minh P đã được tống đạt hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 xét xử vắng mặt bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh P quen biết, tìm hiểu nhau một thời gian rồi đi đến hôn nhân. Anh chị được hai bên gia đình tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn năm 2009 tại Ủy ban nhân dân phường Ngã Bảy, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang, do đó hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Thời gian đầu cuộc sống gia đình hạnh phúc; sau đó xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nhau, giữa hai vợ chồng không có tiếng nói chung, anh P xua đuổi chị L ra khỏi nhà và có những lời nói xúc phạm danh dự của chị L. Mâu thuẫn kéo dài không hàn gắn lại được nên anh chị đã ly thân với nhau từ năm 2019 cho đến nay. Nhận thấy chị L và anh P đã không sống chung trong một thời gian dài, anh chị không còn chăm sóc lẫn nhau, tình cảm chị L đối với anh P không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị L được ly hôn anh P theo quy định của Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Có 03 con chung tên Nguyễn Nguyên P1 (giới tính: Nam), sinh ngày 30/01/2009; Nguyễn Nguyên B1 (giới tính: Nam), sinh ngày 22/02/2012 và Nguyễn Nguyên K1 (giới tính: Nam), sinh ngày 19/8/2015. Từ khi ly thân đến nay cả ba con chung đều sinh sống cùng với mẹ. Ngoài ra, cháu Nguyễn Nguyên P1 và cháu Nguyễn Nguyên B1 có nguyện vọng sống cùng mẹ. Nhằm tránh gây xáo trộn cuộc sống của các con chung nên Hội đồng xét xử thống nhất giao ba con chung cho chị L được tiếp tục chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng.
Chị L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên anh P chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho anh Nguyễn Minh P không ai được quyền cản trở.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ chung: Không có nên yêu cầu Tòa án giải quyết.
Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Điều 51; Điều 56; Điều 81 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị Trúc L được ly hôn anh Nguyễn Minh P.
Về con chung: Giao 03 con chung tên Nguyễn Nguyên P1 (giới tính: Nam), sinh ngày 30/01/2009; Nguyễn Nguyên B1 (giới tính: Nam), sinh ngày 22/02/2012 và Nguyễn Nguyên K1 (giới tính: Nam), sinh ngày 19/8/2015 cho chị L được quyền tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi trưởng thành; anh P chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho anh Nguyễn Minh P không ai được quyền cản trở.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn Nguyễn Thị Trúc L phải nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Chuyển tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0008581 ngày 24/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ngã Bảy thành án phí, nguyên đơn không phải nộp thêm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2, luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự được quyền thỏa thuận thi hành án, được quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (22/02/2022). Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân nơi bị đơn cư trú.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hậu Giang; - VKSND TP. Ngã Bảy; - CCTHA TP. Ngã Bảy; - UBND phường NB; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Kim Cƣơng |