vanban.org

Bản án 02/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

thường vụ Quốc Hội qui định về án phí, lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Phan Về con chung: Giao có 03 con chung tên Phan Thiên B, sinh ngày Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thanh T ly hôn với Phan Quốc H"
  • Tòa quyết gì? thường vụ Quốc Hội qui định về án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2022/HNGĐ-ST

Ngày: 14/02/2022

V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Xuân Tỵ 2. Bà Tăng Thị Nhật Minh. Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đinh Duy Toàn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh. Hôm nay, ngày 14 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 239/2021/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 07 năm 2021, về tranh chấp "Ly hôn", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2022, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1986 Nơi cư trú: Số 32A đường N, phường L, thành phố B, tỉnh L. (có mặt) 2. Bị đơn: Ông Phan Quốc H, sinh năm 1981 Nơi cư trú: Số 32A đường N, phường L, thành phố B, tỉnh L. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện,các lời khai trong qúa trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Phan Quốc H kết hôn với nhau từ năm 2008 đăng ký kết hôn tại UBND phường L, thành phố B, tỉnh L, hôn nhân tự nguyện, quá trình vợ chồng chung sống có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung trong gia đình, việc làm ăn kinh tế trong gia đình không có sự đồng thuận, dù đã nhiều lần cố gắng hàn gắn khắc phục nhưng không đạt kết quả gì. Nay tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống do đó bà đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn cho bà và ông Phan Quốc H.

Về con chung: Bà và ông H có 03 con chung tên Phan Thiên B, sinh ngày 29/09/2008, Phan Ngọc Thiên A, sinh ngày 12/02/2011 và Phan Uy V, sinh ngày 10/04/2015. Ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 03 con đến khi thành niên, bà T có đủ điều kiện nuôi con, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung, nợ riêng: Không có. Ông Phan Quốc H trình bày: Ông và bà T chung sống và đăng ký kết hôn từ năm 2008, quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do ông hay nhậu nhẹt nên vợ chồng thường gây cãi, xô xát nhau, ông bà đã nhiều lần cố gắng hàn gắn khắc phục nhưng không đạt kết quả, ông nhiều lần đề nghị bà T cho ông cơ hội nhưng không được. Tuy nhiên ông vẫn còn tình cảm với bà T và mong muốn xây dựng hạnh phúc gia đình nên không đồng ý ly hôn. Về con chung: Ông bà có 03 con chung tên Phan Thiên B, sinh ngày 29/09/2008; Phan Ngọc Thiên A, sinh ngày 12/02/2011 và Phan Uy V, sinh ngày 10/04/2015. Trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn ông có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng bà con, không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung, nợ riêng: Không có. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn giữ nguyên ý kiến không có thay đổi gì khác. Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghỉ nghị án như sau: Về tố tụng: thực hiện đúng trình tự thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự qui định. Về nội dung vụ án: yêu cầu của bà T được ly hôn với ông H là có cơ sở chấp nhận; đề nghị giao con chung tên Phan Thiên B, sinh ngày 29/09/2008; Phan Ngọc Thiên A, sinh ngày 12/02/2011 và Phan Uy V, sinh ngày 10/04/2015 cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng đến khi thành niên, bà T không yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết qủa tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định: [1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị Thanh T khởi kiện yêu cầu Tòa án cho bà ly hôn với ông Phan Quốc H, địa chỉ: Số nhà 32A đường N, phường L, thành phố B, tỉnh L. Do vậy, xác định đây là tranh chấp ly hôn theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án thuộc

thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. [2]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Phan Quốc H tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn đúng theo qui định của pháp luật. Qua xác minh tại địa phương và lời khai của của các đương sự đều thừa nhận quá trình chung sống ông bà thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không có sự quan tâm chia sẻ với nhau, trong việc làm ăn kinh tế không có sự đồng thuận, ông H thường xuyên uống rượu dẫn tới vợ chồng xô xát nhau, mặc dù đã nhiều lần cố gắng nhưng không có biện pháp khắc phục được mâu thuẫn, ông bà đã sống ly thân khoảng 01 tháng nay. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T là có căn cứ và hợp pháp. [3]. Về nuôi con chung: Bà T và ông H có 03 con chung tên Phan Thiên B, sinh ngày 29/09/2008; Phan Ngọc Thiên A, sinh ngày 12/02/2011 và Phan Uy V, sinh ngày 10/04/2015. Bà T và ông H đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu 03 con chung. Xét cháu B, A có nguyện vọng ở với mẹ, cháu V còn nhỏ cần sự chăm sóc của mẹ. Do đó, xuất phát từ lợi ích mọi mặt của con, theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, cần giao cháu Phan Thiên B, sinh ngày 29/09/2008; Phan Ngọc Thiên A, sinh ngày 12/02/2011 và Phan Uy V, sinh ngày 10/04/2015 cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con thành niên. [4]. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến. [5]. Về nợ chung, nợ riêng: Các đương sự khai không có. Trong quá trình giải quyết không ai có tranh chấp gì nên không xem xét. [6]. Xét ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận. [7]. Về án phí: Bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; - Áp dụng Điều 51 và Điều 56, Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; - Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử: 1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Phan Quốc H. 2. Về con chung: Giao có 03 con chung tên Phan Thiên B, sinh ngày 29/09/2008, Phan Ngọc Thiên A, sinh ngày 12/02/2011 và Phan Uy V, sinh

ngày 10/04/2015 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con thành niên. Bà T không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn và thay đổi nuôi con được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. 3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thanh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (ly hôn) là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0019188 ngày 29/07/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc (Bà T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm). 4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 7, điều 7a, điều 7b và điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ