vanban.org

Bản án 02/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Phú Yên Tuyên án 22/03/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, anh Hà Văn Hải được ly hôn với chị Nguyễn Thị Ngọc CH.

Về con chung: Không có. Về tài sản chung và nợ chung: Không có. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, anh Hà Văn Hải được ly hôn với chị Nguyễn Thị Ngọc CH.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 22-3-2022
V/v “xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Quang;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Chùm và ông Nguyễn Ngọc Uyên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thục Uyên, Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

Ngày 22 tháng 3 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 06/2022/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2022 về việc “Xin ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 03/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2022, giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Hà Văn Hải, sinh năm 1975; Địa chỉ: 1258 Marshall Circle, Urbana, IL 61802, HK; (xin vắng mặt).

2/ Bị đơn: Nguyễn Thị Ngọc CH, sinh năm 1993; Địa chỉ: Thôn BNB, phường HXT, thị xã DH, tỉnh Phú Yên; (xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong hồ sơ, anh Hà Văn Hải trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn Hà Văn Hải và bị đơn Nguyễn Thị Ngọc CH tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị xã DH, tỉnh Phú Yên vào năm 2019. Sau khi kết hôn, anh Hải trở về HK sống và bị thất nghiệp, nên đời sống khó khăn. Hơn nữa, vợ chồng thường xuyên cãi vã, mâu thuẫn trầm trọng, anh Hải không đủ điều kiện bảo lãnh cho vợ sang HK cùng chung sống. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống hôn nhân không có, mục đích hôn nhân không đạt được, nên nguyên đơn xin được ly hôn với bị đơn Nguyễn Thị Ngọc CH.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Bị đơn chị Nguyễn Thị Ngọc CH có văn bản trình bày:

Thống nhất với trình bày của anh Hải về quan hệ hôn nhân. Nay anh Hải xin ly hôn chị CH đồng ý, vì nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Nguyên đơn, bị đơn có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Anh Hà Văn Hải xin ly hôn chị Nguyễn Thị Ngọc CH, hiện tại anh Hải đang sinh sống tại 1258 Marshall Circle, Urbana, IL 61802, HK, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo quy định tại Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

Anh Hà Văn Hải và chị Nguyễn Thị Ngọc CH đều xin vắng mặt tại phiên tòa, căn cứ Điều 207, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa không tiến hành hòa giải được và tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Hà Văn Hải và chị Nguyễn Thị Ngọc CH tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị xã DH, tỉnh Phú Yên vào năm 2019 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh Hải chỉ chung sống với chị CH thời gian ngắn rồi trở về HK sinh sống và bị thất nghiệp, nên đời sống khó khăn. Hơn nữa, vợ chồng thường xuyên cãi vã, mâu thuẫn trầm trọng, anh Hải không đủ điều kiện bảo lãnh cho vợ sang HK cùng chung sống. Nay nhận thấy tình cảm không còn, đời sống hôn nhân không tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được, nên nguyên đơn xin ly hôn với chị Nguyễn Thị Ngọc CH. Xét thấy yêu cầu xin ly hôn của anh Hải là có căn cứ và chị CH cũng đồng ý ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ quy định Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Hà Văn Hải được ly hôn với bị đơn Nguyễn Thị Ngọc CH.

Về con chung: không có.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Về án phí: Anh Hà Văn Hải phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51 và 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, Điều 207, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, anh Hà Văn Hải được ly hôn với chị Nguyễn Thị Ngọc CH.

2. Về con chung: Không có.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

4. Về án phí: Nguyên đơn Hà Văn Hải phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu xin ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp đủ theo biên lai thu tiền số 0000194 ngày 02/3/2022 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên.

Nguyên đơn ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết./.

Cỡ chữ