- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam - Nguyễn Thị Kim T"
- Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 11, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 11 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH A Bản án số: 02/2022/DS-ST Ngày: 30 - 12 - 2021 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH A
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Trang.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Quốc Dũng.
2. Bà Nguyễn Thị Xuân Loan.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Thảo, là Thư ký Toà án nhân dân thành phố L.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố L tham gia phiên toà: Không.
Ngày 30 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh A xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 194/2021/TLST-DS ngày 06 tháng 10 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 417/2021/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 12 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 438/2021/QĐST-DS ngày 28 tháng 12 năm 2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng C. Trụ sở: 169 phố L, phường H, quận H, thành phố H.
Người đại diện theo pháp luật: Dương Quyết T – Tổng Gián Đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Tô Văn H – Phó Giám đốc Ngân hàng C chi nhánh tỉnh A (Văn bản ủy quyền số 7300/QĐ - NHCS ngày 19/9/2019 và số 155/QĐ - NHCS ngày 22/3/2021).
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kim T1, sinh năm 1950.
Địa chỉ: Số 21/12 khóm N, phường M, thành phố L, tỉnh A.
Địa chỉ liên lạc: Số 12/4 tổ 16, hẻm 1, đường L, khóm B1, phường M, thành phố L, tỉnh A.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Ngọc T2, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Số 21/12 khóm N, phường M, thành phố L, tỉnh A.
Địa chỉ liên lạc: Số 12/4 tổ 16, hẻm 1 đường L, khóm B1, phường M, thành phố L, tỉnh A.
(Ông H có đơn xin vắng mặt, bà T1, bà T2 vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án đại diện nguyên đơn trình bày:
Giữa Ngân hàng C chi nhánh A (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) và bà Nguyễn Thị Kim T1 đã ký kết các hợp đồng tín dụng bao gồm:
- Hợp đồng số 60000005700130454 ngày 31/10/2006 cho vay số tiền 3.000.000 đồng mục đích vay hỗ trợ học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn đối với sinh viên Lê Thị Ngọc T2 (con bà T1). Lãi suất cho vay là 0.65%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 130% lãi suất trong hạn (0.845% /tháng), thời gian vay là 60 tháng, hạn trả nợ cuối cùng là 12/12/2012. Quá thời gian trả nợ bà T1 chỉ trả lãi nhưng chưa thanh toán nợ gốc cho ngân hàng. Ngày 13/12/2012 hợp đồng vay của bà T1 chuyển nợ quá hạn. Tính đến ngày 30/12/2021 bà T1 nợ lại ngân hàng số tiền vốn 3.000.000 đồng và lãi tạm tính đến ngày 30/12/2021 là 1.690 đồng.
- Hợp đồng số 60000005700130455 ngày 12/11/2007 cho vay số tiền 8.000.000đ, đồng mục đích vay hỗ trợ học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn lần 2 đối với sinh viên Lê Thị Ngọc T2 (con bà T1). Lãi suất cho vay là 0.5%%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 130% lãi suất trong hạn (0.65%/ tháng), thời gian vay là 60 tháng, hạn trả nợ cuối cùng là 12/12/2012. Quá thời gian trả nợ bà T1 chỉ trả lãi nhưng chưa thanh toán nợ gốc cho ngân hàng. Ngày 13/12/2012 hợp đồng vay của bà T1 chuyển nợ quá hạn. Tính đến ngày 30/12/2021 bà T1 nợ lại ngân hàng số tiền vốn 8.000.000 đồng và lãi tạm tính đến ngày 30/12/2021 là 5.693.938 đồng.
Nay Ngân hàng C yêu cầu Tòa án giải quyết:
Buộc bà Nguyễn Thị Kim T1 và bà Lê Thị Ngọc T2 cùng có nghĩa vụ thanh toán cho ngân hàng số tiền 16.695.628 đồng. Trong đó vốn 11.000.000 đồng và lãi tạm tính của hai hợp đồng nêu trên đến ngày 30/12/2021 là 5.695.628 đồng. Yêu cầu tiếp tục tính lãi quá hạn phát sinh theo hai hợp đồng nếu trên từ ngày xét xử đến khi thanh toán xong nợ gốc.
* Bị đơn bà Nguyễn Thị Kim T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Ngọc T2 đã nhận các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng đến nay vẫn không nộp văn bản trình bày ý kiến và vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
* Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Tô Văn H có đơn yêu cầu được vắng mặt.
Bị đơn Nguyễn Thị Kim T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và bà Lê Thị Ngọc T2 vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu hồ sơ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C là quan hệ tranh chấp hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thành phố L theo khoản 3 Điều 26, Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Kim T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Ngọc T2 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ số 21/12 khóm N, phường M, thành phố L, tỉnh A và hiện nay đang sinh sống tại số 12/4 tổ 16, hẻm 1 đường L, khóm B1, phường M, thành phố L, tỉnh A nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố L theo điểm a khoản 3 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.3] Sau khi nhận được quyết định hoãn phiên tòa, ông Tô Văn H là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn nộp cho Tòa án với nội dung đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt Ngân hàng C.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết công khai các văn bản tố tụng cho bà Nguyễn Thị Kim T1, bà Lê Thị Ngọc T2 theo qui định tại Điều 177 và Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân Sự. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bà T1 và bà T2.
Về nội dung tranh chấp:
Giữa Ngân hàng C chi nhánh A (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) và bà Nguyễn Thị Kim T1 đã ký kết các hợp đồng tín dụng bao gồm:
- Hợp đồng số 60000005700130454 ngày 31/10/2006 cho vay số tiền 3.000.000 đồng mục đích vay hỗ trợ học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn đối với sinh viên Lê Thị Ngọc T2 (con bà T1). Lãi suất cho vay là 0.65%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 130% lãi suất trong hạn (0.845% /tháng), thời gian vay là 60 tháng, hạn trả nợ cuối cùng là 12/12/2012. Quá thời gian trả nợ bà T1 chỉ trả lãi nhưng chưa thanh toán nợ gốc cho ngân hàng. Ngày 13/12/2012 hợp đồng vay của bà T1 chuyển nợ quá hạn. Tính đến ngày 30/12/2021 bà T1 nợ lại ngân hàng số tiền vốn 3.000.000 đồng và lãi tạm tính đến ngày 30/12/2021 là 1.690 đồng.
- Hợp đồng số 60000005700130455 ngày 12/11/2007 cho vay số tiền 8.000.000đ, đồng mục đích vay hỗ trợ học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn lần 2 đối với sinh viên Lê Thị Ngọc T2 (con bà T1). Lãi suất cho vay là 0.5%%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 130% lãi suất trong hạn (0.65%/ tháng), thời gian vay là 60 tháng, hạn trả nợ cuối cùng là 12/12/2012. Quá thời gian trả nợ bà T1 chỉ trả lãi nhưng chưa thanh toán nợ gốc cho ngân hàng. Ngày 13/12/2012 hợp đồng vay của bà T1 chuyển nợ quá hạn. Tính đến ngày 30/12/2021 bà T1 nợ lại ngân hàng số tiền vốn 8.000.000 đồng và lãi tạm tính đến ngày 30/12/2021 là 5.693.938 đồng.
Nay Ngân hàng C yêu cầu Tòa án giải quyết:
Buộc bà Nguyễn Thị Kim T1 và bà Lê Thị Ngọc T2 cùng có nghĩa vụ thanh toán cho ngân hàng số tiền 16.695.628 đồng (Mười sáu triệu sáu trăm chín mươi lăm nghìn sáu trăm hai mươi tám đồng). Trong đó vốn 11.000.000 đồng và lãi tạm tính đến ngày 30/12/2021 là 5.695.628 đồng.
Yêu cầu tiếp tục tính lãi quá hạn phát sinh theo hai hợp đồng nếu trên từ ngày xét xử đến khi thanh toán xong nợ gốc.
Hội đồng xét xử xét thấy:
- Hợp đồng số 60000005700130454 ngày 31/10/2006 và Hợp đồng số 60000005700130455 ngày 12/11/2007 thể hiện dưới hình thức văn bản, dựa trên sự tự nguyện, tự thỏa thuận giữa bên cho vay là Ngân hàng C – chi nhánh tỉnh A và bên vay là bà Nguyễn Thị Kim T1, người kế thừa nghĩa vụ trả nợ vay là bà Lê Thị Ngọc T2. Hợp đồng tín dụng nêu trên đều đã thể hiện rõ về mức cho vay, phương thức cho vay, thời hạn vay, lãi suất, thời gian trả nợ gốc và lãi, quyền và nghĩa vụ của bên cho vay; bên vay… đúng theo quy đinh tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;
Do bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà T1 và bà T2 vi phạm hợp đồng nên yêu cầu của nguyên đơn buộc bà T1 và bà T2 cùng có nghĩa vụ thanh toán cho ngân hàng số tiền vốn của hai hợp đồng nêu trên là 11.000.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.
Về yêu cầu tính lãi:
Do bà T1 và bà T2 vi phạm nghĩa vụ của bên vay và gây thiệt hại cho Ngân hàng C do đó yêu cầu của nguyên đơn về tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng là phù hợp nên được chấp nhận. Bà T và bà P phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng C số tiền lãi tính đến ngày 30/12/2021 là 5.695.628 đồng.
Từ ngày 31/12/2021, bị đơn bà Nguyễn Thị Kim T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Ngọc T2 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hai hợp đồng số 60000005700130454 và 60000005700130455 từ ngày 31/12/2021 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ngân hàng C thuộc đối tượng không phải nộp án phí theo điểm c khoản 1 Điều 11 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
bị đơn bà Nguyễn Thị Kim T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Ngọc T2 phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 262, khoản 1 Điều 147 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ Luật dân sự năm 2015;
Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;
Điểm c khoản 1 Điều 11, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C.
Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Kim T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Ngọc T2 cùng có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng C số tiền 16.695.628 đồng (Mười sáu triệu sáu trăm chín mươi lăm nghìn sáu trăm hai mươi tám đồng). Trong đó vốn 11.000.000 đồng và lãi tạm tính đến ngày 30/12/2021 là 5.695.628 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 31/12/2021) bà Nguyễn Thị Kim T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Ngọc T2 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng C cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Án phí:
2.1 Ngân hàng C thuộc đối tượng không phải nộp án phí theo điểm c khoản 1 Điều 11 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
2.2 bà Nguyễn Thị Kim T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Ngọc T2 liên đới nộp số tiền 834.700 đồng (Tám trăm ba mươi bốn nghìn bảy trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại chính quyền địa phương nơi cư trú.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh A; - VKSND TP. L; - Chi cục THADS TP. L; - Các đương sự; - Văn phòng; - Lưu hồ sơ. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Nguyễn Thị Minh Trang |