vanban.org

Bản án 02/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Xuân V.

Công nhận giao dịch chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất giữa ông Trần Xuân V, bà Vũ Thị H với ông Trần Xuân V1, bà Nguyễn Thị T đƣợc xác lập ngày 04/6/2002 âm lịch có hiệu lực pháp luật. Giao cho ông Trần Xuân V, bà Vũ Thị H đƣợc quyền sử dụng 251m2 đất và công trình, tài sản trên đất tại thửa đất số 12… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất — án dân sự — "NĐ: Trần Xuân V- BĐ: Trần Xuân V1"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Xuân V.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 133 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2022/DS-ST
Ngày 18-03-2022
“V/v tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quân.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Chu Quang Liêm và bà Nguyễn Thị Hồng

- Thư ký phiên tòa: Ông Mai Văn Việt - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 05/2020/TLST-DS ngày 21 tháng 02 năm 2020 về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 05/2021/QĐST-DSngày 22 tháng 12 năm 2021; quyết định hoãn phiên tòa số 01/2022/QĐST-DS ngày 21/01/2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 02/2022/QĐST- DS ngày 18/02/2022 giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: ông Trần Xuân V, sinh năm 1968;

Trú tại: thôn …, xã T, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Trần Đức T, sinh năm 1955;

Trú tại: thôn T, xã H, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng, có mặt.

- Bị đơn: ông Trần Xuân V1, sinh năm 1956.

Trú tại: khu phố T, thị trấn T, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phƣớc, vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Vũ Thị H, sinh năm 1968:

Trú tại: thôn .., xã T, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông, vắng mặt

(bà H vợ ông V ủy quyền cho ông Trần Đức T tham gia tố tụng, ông T có mặt)

+ Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1960;

Trú quán: thôn M, xã V, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng, có mặt.

+ Ông Trần Xuân C, sinh năm 1954 và bà Phạm Thị T1, sinh năm 1953, đều vắng mặt;

+ Anh Trần Quang K, sinh năm 1968 và chị Mai Thị H, sinh năm 1971 (Chị H vắng mặt ủy quyền cho anh K tham gia tố tụng, anh K có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt)

Đều trú tại: thôn T, xã H, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng

- Những người làm chứng:

+ Bà Trần Thị Q, sinh năm 1954 và ông Nguyễn Nam X, sinh năm 1953; có mặt.

+Ông Trần Xuân Đ, sinh năm 1960, vắng mặt.

Đều trú tại: thôn T, xã H, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Trần Xuân V và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trần Đức T trình bày: Ông V, ông V1, ông Trần Xuân C là anh em ruột. Vợ chồng ông V1, bà T có thửa đất số 12, tờ bản đồ số 6, diện tích theo giấy chứng nhận 248m2 (diện tích theo kết quả đo đạc xem xét thẩm định là 251m2) ở thôn T, xã H, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng đã đƣợc cấp GCNQSD đất đứng tên ông V1 năm 1993 và đƣợc hợp pháp hóa năm 2002. Năm 2002, do kinh tế khó khăn và mâu thuẫn vợ chồng nên ông V1 muốn bán (chuyển nhƣợng) toàn bộ thửa đất và tài sản gắn liền với đất để lấy tiền chia nhau, trong khi vợ chồng ông V có nhu cầu mua nhƣng vì anh em bất hòa nên vợ chồng ông V đã nhờ vợ chồng ông C và bà Phạm Thị T1 đứng ra mua hộ của vợ chồng ông V1 cho ông V, bà H, ông C, bà T1 nhất trí. Theo thỏa thuận đó, ông C, bà T1 chỉ đứng ra giao dịch hộ, còn việc thanh toán tiền mua nhà đất, vợ chồng ông V phải trả trực tiếp cho ông V1, bà T. Mặc dù thỏa thuận nhƣ vậy, nhƣng vẫn phải lập giấy tờ, theo đó ngày 17/05/2002, vợ chồng ông V và vợ chồng ông C, bà T1 viết giấy với nội dung: ông C và bà T1 mua của ông V1, bà T thửa đất ở gồm chuồng lợn, nhà ở và toàn bộ cây trồng trên diện tích đất 248m2 tại thôn T, xã H, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng với giá là 2.000.000 đồng, ông C, bà T1 chuyển nhƣợng lại toàn bộ nhà đất nêu trên cho vợ chồng ông V, các bên đã thanh toán đầy đủ, có đủ chữ ký các bên. Vì trƣớc đó ông C, bà T1 đã trao đổi, mua bán xong với ông V1, bà T nên mới làm giấy tờ mua bán với nhau nhƣ vậy. Tuy nhiên ngày 17/5/2002, ông V chƣa chuẩn bị đủ tiền cho ông V1, bà T mà đến ngày 04/6/2002 âm lịch mới đƣa đủ tiền cho ông V1, bà T nên cũng đến ngày trên, ông V1, bà T và ông C, bà T1 mới viết giấy chuyển nhƣợng toàn bộ nhà đất cho nhau với nội dung ông V1, bà T nhƣợng lại cho vợ chồng ông C, bà T1 toàn bộ diện tích đất ở 248m2 và cây tạp trong vƣờn cùng hai gian nhà tre với giá tiền là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng). Hai bên đã nhất trí giao nhà đất và nhận tiền đầy đủ. Giấy chuyển nhƣợng có xác nhận của Trƣởng thôn, cán bộ địa chính xã và Chủ tịch UBND xã H.

Mặc dù giấy tờ mua bán giữa ông V1, bà T cho vợ chồng ông C, bà T1 và giấy mua bán giữa vợ chồng ông C, bà T1 với vợ chồng ông chỉ ghi giá 2.000.000 đồng nhƣng thực tế thanh toán trả tiền mua nhà đất là 10.000.000 đồng, lý do để giảm tiền thuế đất. Theo đó ông V đã trả tiền cho ông V1, bà T mỗi ngƣời là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng)là theo yêu cầu của ông V1 vì vợ chồng mâu thuẫn không ở đƣợc với nhau nên ông bà ấy tự phân chia và đề nghị thanh toán nhƣ vậy. Việc trả 5 triệu đồng cho bà T thì bà T đã xác nhận bằng văn bản, việc trả ông V1 5 triệu đồng, có sự chứng kiến của ông C, bà T1 và vợ chồng ông V1, bà T. Tuy nhiên vì là anh em trong gia đình nên khi thanh toán không có giấy tờ biên nhận nhƣng có bà Q là chị ruột ông xác nhận sau khi ông V1 bán đất còn lại số tiền 1.000.000 đồng có đƣa cho bà Q vay để sau này mua vàng làm quà tặng cho con gái ông V1, bà T trong ngày cƣới; có giấy xác nhận của ông C, bà T1 về việc ông bà mua đất hộ vợ chồng ông V năm 2018 và đoạn ghi âm cuộc nói chuyện trực tiếp giữa ông và ông V1 năm 2017 (không nhớ ngày tháng) tại nhà ông V1 trong huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phƣớc, trong đó ông V1 thừa nhận có nhận của ông 5.000.000 đồng tiền bán đất, sau đó lấy tiền cho anh K (cháu) vay tính lãi ngân hàng, khi con gái đi lấy chồng thì lấy tiền mua vàng tặng cho con gái.

Sau khi ông V1, bà T nhận đủ tiền, ông V1 đã bàn giao toàn bộ nhà đất và giấy chứng nhận QSD đất (bản chính) cho vợ chồng ông. Vợ chồng ông đã quản lý từ năm 2002, xây cổng, xây cơi thêm tƣờng bao ở phía giáp ngõ đi cao lên từ bức tƣờng cũ; nhà cấp 4 để chăn nuôi ở phía cuối đất và một đoạn tƣờng bao phía sau giáp chuồng chăn nuôi, san lấp vƣờn và cho anh K trồng chuối, tƣờng bao giáp ranh phía Bắc giáp ranh là do vợ chồng anh K xây dựng. Ông nhất trí với kết quả đo đạc hiện trạng và định giá tài sản. Trƣờng hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, công nhận giao dịch mua bán đất giữa vợ chồng ông V và vợ chồng ông V1 có hiệu lực, xác nhận thửa đất số 12 tờ bản đồ số 06 diện tích 251m2 là của vợ chồng ông V, quan điểm của nguyên đơn về việc bức tƣờng bao do vợ chồng anh K xây dựng vẫn là tƣờng chung giữa hai gia đình cùng sử dụng; đối với một phần tƣờng có lán bán mái tôn của vợ chồng anh K xây thò sang một ít, tạm thời chƣa sử dụng thì cứ để vợ chồng anh K sử dụng, khi nào sử dụng và ông bà có yêu cầu thì vợ chồng anh K phải tháo dỡ, đối với một số cây chuối do anh K trồng, anh K đƣợc quyền thu hoạch, khi nào ông bà sử dụng sẽ yêu cầu anh K đánh chuyển đi chỗ khác; phía sau có công trình xây lấn ra đất do UBND xã quản lý, khi nào địa phƣơng xử lý ông bà sẽ nghiêm chỉnh chấp hành. Ông V1 gây khó khăn cho ông khi làm thủ tục nên ông không nhất trí hỗ trợ bất cứ khoản nào khác cho ông V1.

- Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai và các tài liệu khác có trong hồ sơ, bị đơn ông Trần Xuân V1 trình bày:

Ông và bà Nguyễn Thị T lấy nhau từ năm 1982, không đăng ký kết hôn. Thửa đất số 12, tờ bản đồ số 6, diện tích 248m2 ở tại thôn T, xã H, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơngcó nguồn gốc đất ông cha, sau đó tách cho ông và ông V mỗi ngƣời một phần. Thửa đất tách cho ông là sau khi ông lấy bà T và đã đƣợc UBND tỉnh Hải Hƣng (nay là UBND tỉnh Hải Dƣơng) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Trần Văn V (tức Trần Xuân V1) ngày 03/11/1993, đến ngày 05/6/2002 đƣợc UBND huyện Tứ Kỳ ký nhận hợp pháp hóa trang 3 giấy chứng nhận. Năm 2002, do hoàn cảnh khó khăn nên vợ chồng ông đã bán (chuyển nhƣợng) toàn bộ thửa đất và tài sản gắn liền với đất cho vợ chồng ông C, bà T1 (là anh ruột và chị dâu). Hai bên có viết giấy chuyển nhƣợng ngày 04/6/2002 (âm lịch) với nội dung: Vợ chồng ông bán thửa đất 248m2 và tài sản gắn liền với đất cho vợ chồng ông C với giá 2.000.000 đồng, hai bên đã giao nhà đất, nhận tiền đầy đủ, có chữ ký bên chuyển nhƣợng là do ông ký, ký cả cho bà T,chữ ký ông C, bà T1, có xác nhận của Trƣởng thôn T, cán bộ địa chính xã và Chủ tịch UBND xã H. Tuy nhiên, giấy này chỉ là giấy bán giữa vợ chồng ông và ông C, bà T1 vì mục đích muốn tiền thuế đất nhẹ đi, thực tế bán 10 triệu, ông C, bà T1 mới đƣa có 2.000.000 đồng nên ông viết riêng giấy này để xác nhận. Trong số tiền mà bà T1 đƣa, ông để lại cho ông C, bà T1 tiền góp giỗ hàng năm (1.000.000 đồng), ông chỉ cầm 1.000.000 đồng, ông C, bà T1 còn nợ là 3.000.000 đồng. Trƣớc đó vào ngày 17/5/2002 (âm lịch), giữa vợ chồng ông và ông C, bà T1 có viết giấy chuyển nhƣợng, theo đó vợ chồng ông chuyển nhƣợng cho ông C, bà T1 toàn bộ nhà đất trên với giá 10.000.000 đồng và là trọng tài chia đôi cho vợ chồng mỗi ngƣời ½ số tiền trên, theo đó bà T đƣợc 5.000.000 đồng và ông đƣợc 5.000.000 đồng. Khi viết giấy này có ông Trần Xuân V (đại diện bên A, tức là bên bán), anh Trần Quang K, sinh năm 1967 ở cùng thôn ký chứng kiến cho bên B mua. Giấy này, do ông C cầm, sổ đỏ ông giao cho ông C, nhƣng ông V cầm luôn giấy tờ mua bán và sổ đỏ từ đó đến nay. Đối với số tiền 5 triệu đồng là phần của bà T thì không biết bà T đã nhận chƣa, ông xác định đã nhận 2.000.000 đồng do vợ chồng ông C đƣa, khi đƣa tiền thì không có giấy tờ biên nhận gì, trong đó ông chỉ cầm 1.000.000 đồng, còn để lại 1.000.000 đồng để ông C hƣơng khói cho các cụ. Theo thỏa thuận giữa ông và vợ chồng ông C, phần tiền bán đất của ông là 5.000.000 đồng mà ông C, bà T1 có nghĩa vụ trả ông. Do không có nhu cầu dùng số tiền trên nên ông cho anh K vay 5.000.000 đồng, tính lãi Ngân hàng. Có giấy viết tay với nhau giữa ba bên là ông, vợ chồng ông C, bà T1 và anh K, theo đó vợ chồng ông C, bà T1 thanh toán số tiền 5.000.000 đồng tiền đất cho ông và giao số tiền trên cho anh K vay, có chữ ký của các bên, anh K là ngƣời cầm giấy tờ này, ông không cầm nên không có để xuất trình cho Toà án, nhƣng sau đó ông C không đƣa tiền cho anh K. Tại thời điểm bán nhà đất cho ông C, bà T1, trên đất của ông có 01 nhà 3 gian lợp ngói, 01 bếp, 01 bể nƣớc, 01 sân trạt bê tông và vƣờn. Sau đó ông V tự ý quản lý, đã xây dựng một số công trình nhƣ bể, chuồng lợn năm 2014, trồng chuối. Năm 2016, ông C, bà T1 có trao đổi với ông là chú V không trả tiền cho ông C nên ông C trả lại nhà cho ông, nên ông đã trả lại số tiền 2.000.000 đồng cho ông C, bà T1, trong đó ông bà đã nhận có 1.000.000 đồng, còn 1.000.000 là tiền hƣơng khói cho các cụ thì không nhận, việc trả đất và trả tiền giữa ông và vợ chồng ông C, bà T1 cũng không có giấy tờ gì. Ông khẳng định không trực tiếp giao dịch, bán nhà đất cho ông V, bà H. Cho đến nay ông không có ý kiến gì về việc ông bán đất cho ông C, bà T1 cũng nhƣ việc ông C bà T1 mua đất của vợ chồng ông bán cho ông V, bà H hoặc mua đất hộ vợ chồng ông V, nhƣng ông V, bà H chƣa thanh toán nửa tiền còn lại (tức 5 triệu đồng) cho ông C, bà T1 để ông C bà T1 đƣa cho ông hoặc trả trực tiếp số tiền trên cho ông, vì vậy ông đề nghị Tòa án buộc ông V, bà H phải trả cho ông một nửa giá trị thửa đất theo giá thị trƣờng.

- Tại biên bản lấy lời khai và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T trình bày:

Bà và ông V1 kết hôn với nhau năm 1981 và về thửa đất số 12, tờ bản đồ số 6, diện tích 248m2 tọa lạc tại thôn T, xã H, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng sinh sống. Về nguồn gốc thửa đất thì đúng nhƣ ông V1 đã trình bày. Do vợ chồng không hợp nhau, nên năm 2000, bà đã đƣa các con về xã V sinh sống, vợ chồng ly thân nên sự việc ông V1 bán đất của vợ chồng nhƣ thế nào không bàn bạc gì với bà. Bà chỉ biết, năm 2002, ông V1 gọi bà về để nhận tiền bán đất của vợ chồng, cho ba mẹ con bà một nửa, tức bán 10.000.000 đồng thì chia ba mẹ con bà 5.000.000 đồng. Ông V1 nói bán đất cho chú V, chia mỗi ngƣời một nửa thì về nhà chú V lấy tiền. Bà đã về thẳng nhà ông V lấy tiền, nhận tiền từ ông V hai lần, một lần 3.000.000 đồng và lần sau nhận 2.000.000 đồng, tổng là 5.000.000 đồng, khi nhận tiền cũng không có giấy tờ biên nhận gì và cũng không nhớ ngày tháng nhận. Từ khi nhận tiền đất cho đến nay, bà cũng không về nhà đất của vợ chồng nữa, còn ông V1 bàn giao cho ai thì bà không để ý. Cũng chính vì nhƣ vậy, nên bà chƣa ký vào bất cứ giấy tờ mua bán nào. Thời gian gần đây, ông V có nhờ bà xác nhận nội dung bán đất cho ông V, bà H, bà đã xác nhận cho ông V, riêng về nội dung vợ chồng bà đã nhận tiền đầy đủ vào năm 2002 là chƣa chính xác. Bà chỉ nhận phần tiền của bà từ ông V đủ 5.000.000 đồng, còn số tiền còn lại ông V đã trả cho ông V1 hay chƣa thì bà không biết, không chứng kiến, bởi lúc nhận tiền thì ông V1 không có mặt ở nhà ông V. Bà đã đƣợc Tòa án cho xem tài liệu bản chính Đơn xin bán đất ở, đề ngày 04/6/2002, ở dƣới mục ngƣời làm giấy bán ký tên Nguyễn Thị T cho ông C, bà T1, bà xác định đây không phải là chữ viết, chữ ký của bà. Mặc dù không phải chữ viết, chữ ký của bà, nhƣng đến nay, bà không có ý kiến gì về việc ông V1 nhà đất trên cho ông V, bà H hay bán cho ông C, bà T1. Bà xác định sự việc bán nhà đất của vợ chồng đã xong, quyền lợi của bà cũng đã đƣợc bảo đảm, vì vậy, sau này ông V, bà H với ông V1 có thỏa thuận đƣợc với nhau hoặc Tòa án có đƣa ra phán quyết nhƣ thế nào thì bà cũng nhất trí, không có yêu cầu đề nghị gì đến quyền lợi của mình.

- Tại biên bản lấy lời khai và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Xuân C, bà Phạm Thị T1 trình bày:

Ông bà là anh trai và chị dâu của ông V1, ông V. Trƣớc đây, ông V1 có thửa đất 248m2 ở thôn T, xã H, huyện Tứ Kỳ đã đƣợc cấp giấy chứng nhận đứng tên ông V1. Do ông V1 có nhu cầu bán, vợ chồng ông bà có nhu cầu mua nên hai bên nhất trí mua với giá 2.000.000 đồng, tuy nhiên sau đó con trai ông bà không có nhu cầu sử dụng nên ông bà không mua nữa và đã trả đất cho ông V1 nhƣng không có văn bản giấy tờ gì, ông bà không mua đất của ông V1 để bán cho ông V. Tòa án cho xem đơn xin bán đất ở đề ngày 04/6/2002 bản chính viết tay và giấy xác nhận đề ngày 08/8/2018, chữ viết, chữ ký trong các tài liệu trên không phải là của ông bà. Do ông bà không còn liên quan gì nên việc ông V khởi kiện ông V1 là do hai bên tự giải quyết với nhau, ông bà không có bất cứ yêu cầu, đề nghị gì.

- Tại biên bản lấy lời khai và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trần Quang K, chị Mai Thị H (do anh K là đại diện) trình bày:

Vợ chồng anh là hộ giáp ranh với thửa đất đứng tên ông V1 và có quan hệ họ hàng nên phải gọi ông C, ông V1, ông V bằng chú, từ trƣớc tới nay không có mâu thuẫn gì. Nguồn gốc thửa đất đứng tên ông V1 nhƣ các đƣơng sự đã trình bày là đúng, khi gia đình tách đất cho ông V1 thì ông V1 đã kết hôn với bà T, sau khi ở một thời gian thì ông V1 đi làm ăn xa, bà T ở nhà xây dựng ngôi nhà lợp ngói ba gian mà hiện nay vẫn còn. Từ năm 2000 đến cuối năm 2008 âm lịch, anh làm ăn trong TP Hồ Chí Minh, không có nhà. Cuối năm 2002 âm lịch anh có về quê ăn tết, anh chỉ nghe anh em trong gia đình, hàng xóm kể lại việc ông V1 có nhu cầu bán đất, ông V có nhu cầu mua nhƣng do anh em có mâu thuẫn nên ông V có nhờ ông C, bà T1 (anh trai và chị dâu) đứng ra mua hộ nhà đất cho ông vợ chồng ông V, giá chuyển nhƣợng lúc thì 8 triệu, lúc 10 triệu đồng, vợ chồng ông V1, bà T bán nhà đất đi để chia đôi tài sản mỗi ngƣời một nửa. Do không có nhà nên anh không trực tiếp chứng kiến, không biết ông V1 bán nhà đất thì nhận tiền từ ai (từ ông C, bà T1 hay do ông V trực tiếp trả) và giấy tờ mua bán các bên viết, ký nhận với nhau nhƣ thế nào. Anh không vay mƣợn gì tiền với ông V1 hay ông C thời điểm bán đất năm 2002, vì anh không có nhà. Theo anh, ông V1 là ngƣời cần tiền mới phải bán đất thì không có chuyện ông V1 cho anh vay tiền. Đối với bức tƣờng ba banh giáp ranh với thửa đất đứng tên ông V1 là do vợ chồng anh xây dựng từ cổng giáp mặt đƣờng xóm đến hết đất về phía sau, ranh giới để phân định giữa hai thửa là tim của tƣờng bao. Đối với đoạn giữa tƣờng bao, vợ chồng anh lợp lán bán mái tôn có chờm đua sang một ít, diện tích nhƣ tại buổi xem xét, thẩm định đã xác định. Đối với bức tƣờng xây gạch ba banh thì sau này giải quyết nhƣ thế nào vẫn là bức tƣờng chung do hai gia đình cùng sử dụng. Đối với phần mái tôn đua sang, trƣờng hợp Tòa án xác định rõ ràng đất của ai, ngƣời đó chƣa sử dụng đến thì vợ chồng anhđề nghị đƣợc tạm thời sử dụng đến khi yêu cầu tháo dỡ, vợ chồng anh có trách nhiệm tháo dỡ. Đối với số lƣợng 7 cây chuối có buồng, 20 cây chuối không có buồng và 20 cây chuối con là do vợ chồng anh trồng trên đất mà hiện nay ông V và ông V1 đang tranh chấp. Khi Tòa án xác định rõ ràng đất thuộc quyền sử dụng của ai và ngƣời đó có yêu cầu, vợ chồng anh có trách nhiệm thu hoạch hoặc đánh chuyển cây đi nơi khác và không yêu cầu phải thanh toán trả tiền giá trị các cây chuối trên cho vợ chồng anh.

- Người làm chứng vợ chồng bà Trần Thị Q và ông Nguyễn Nam X trình bày:

Ông X là anh rể, bà Q là chị ruột của ông V1, ông V, ông T và đều là con cụ Nguyễn Thị V, còn ông Trần Xuân C là con bà cả, từ trƣớc đến nay không có mâu thuẫn gì. Theo ông bà nắm bắt đƣợc ông V1 và bà T tự nguyện đến với nhau và có đi đăng ký kết hôn khoảng năm 1982 và đƣợc gia tổ chức đám cƣới theo phong tục địa phƣơng, nguồn gốc thửa đất số 12, tờ bản đồ số 6 nhƣ các đƣơng sự đã trình bày và xác định bố mẹ tách đứng tên ông V1 là sau khi ông V1 kết hôn với bà T. Ông bà đƣợc nghe cụ Nguyễn Thị V nói lại do vợ chồng ông V1, bà T mâu thuẫn, muốn ly thân nên ông V1 bán nhà đất, ông V muốn mua nhƣng ông V1 lại không muốn bán cho ông V, nên ông V nhờ ông C, bà T1 (là anh trai và chị dâu) đứng ra mua hộ, lúc đầu ông V1 đòi 6.000.000 đồng, về sau ông V1 biết ông C, bà T1 mua hộ ông V, nên ông V1 đòi 10.000.000 đồng, ông V cũng nhất trí mua vì muốn giữ đất ông cha để lại. Việc thanh toán tiền cho nhau nhƣ thế nào thì ông bà không biết, chỉ nghe ông V kể lại là đã trả hết tiền mua đất và nghe bà T (vợ ông V1) kể lại ông V1 bán nhà đất và chia cho mẹ con bà 5.000.000 đồng. Sau thời điểm bán đất, ông V1 đƣa cho bà Q 1.000.000 đồng, khi đƣa ông V1 nói đây là tiền bán đất còn lại gửi bà Q giữ hộ (tức tạm thời cho bà vay, không nhớ ngày tháng). Sau khi bà vào làm cho ông V1 ở tỉnh Bình Phƣớc, thì ông V1 cho vay thêm 1.000.000 đồng, cộng với 1.000.000 đồng mà ông V1 đã đƣa trƣớc đó là 2.000.000 đồng và có bảo với bà khi nào con gái lớn của ông V1, bà T đi lấy chồng thì nhờ bà đánh cho cháu sợi dây chuyền vàng 9999. Cuối năm 2005 khi chị N (con gái lớn của ông V1, bà T) lấy chồng, bà có dùng số tiền đó để đánh 01 sợi dây chuyền vàng và trực tiếp lên trao cho chị Nhạn. Đến nay, giữa vợ chồng bà và ông V1, bà T không còn nợ gì nhau về tiền vay cũng nhƣ về kinh tế.

- UBND xã H xác định: Thửa đất số 12, tờ bản đồ số 6, diện tích 248m2 tọa lạc tại thôn T, xã H, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng có nguồn gốc đất ông cha, đƣợc đăng ký trong hồ sơ 299 đứng tên cụ Nguyễn Thị V tổng diện tích 336m2, sau đó gia đình tách cho ông V và ông V mỗi ngƣời một phần. Thửa đất tách cho ông Trần Xuân V1 là sau khi lấy bà T và đã đƣợc UBND tỉnh Hải Hƣng (nay là UBND tỉnh Hải Dƣơng) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Trần Văn V (tức Trần Xuân V1) ngày 03/11/1993, đến ngày 05/6/2002 đƣợc UBND huyện Tứ Kỳ ký nhận hợp pháp hóa trang 3 giấy chứng nhận, thửa đất sử dụng ổn định và không tranh chấp với các hộ liền kề, qua hòa giải, địa phƣơng nắm bắt đƣợc giữa anh em trong gia đình có việc chuyển nhƣợng đất cho nhau, có giấy viết tay, có xác nhận của địa phƣơng nhƣng các bên chƣa làm thủ tục theo quy định. Ông V đã quản lý nhà đất của ông V1 từ thời điểm anh em viết giấy với nhau cho đến nay. Qua buổi xem xét thẩm định tại chỗ, lồng ghép với kích thƣớc trên giấy chứng nhận đã xác định diện tích đất tranh chấp là 251m2, tăng 3m so với giấy chứng nhận, nguyên nhân là do sai số đo đạc. Quá trình sử dụng, ông V có xây dựng công trình phụ, tƣờng bao lấn chiếm ra đất công (phía sau thửa đất) do UBND xã quản lý là 8,2m2. Hiện nay, Cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền chƣa xử lý thì ngƣời đƣợc quyền sử dụng đất hợp pháp tạm thời sử dụng công trình phụ, khi nào Cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền xử lý thì phải nghiêm chỉnh chấp hành.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trƣớc thời điểm Hội đồng xét xử nghị án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và việc chấp hành pháp luật của các đƣơng sự. Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 38 Luật đất đai năm 1993; Điều 705, 708, 709, 710, 711, 712, 713 BLDS 1995; điểm b.3, mục 2.3, phần II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điều 147, 157 BLTTDS, Luật phí và lệ phí; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Xuân V, công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất giữa ông Trần Xuân V, bà Vũ Thị H với ông Trần Xuân V1, bà Nguyễn Thị T, xác định thửa đất số 12 tờ bản đồ số 06 thôn T, xã H huyện Tứ Kỳ thuộc quyền sử dụng của ông Trần Xuân V và bà Vũ Thị H. Ông V1 phải hoàn trả cho ông V, bà H tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản và chi phí giám định. Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông V1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra công khai tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn ông Trần Xuân V, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Vũ Thị H, chị Mai Thị H đều vắng mặt tại phiên tòa, nhƣng ông V, bà H đã ủy quyền cho ông T, ông T có mặt, chị H đã ủy quyền cho anh Trần Quang K tham gia tố tụng, anh K có đơn giải quyết vắng mặt; bị đơn ông Trần Xuân V1 và ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Xuân C, bà Phạm Thị T1 đã đƣợc triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhƣng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ Điều 227; khoản 1, 2 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX xét xử vắng mặt ông V, bà H, ông V1, chị H, anh K, ông C, bà T1.

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa ông Trần Xuân V và ông Trần Xuân V1 là tranh chấp dân sự về hợp đồng chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất; Thửa đất tọa lạc tại thôn T, xã H, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ theo quy định tại khoản 3 Điều 26; Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nguồn gốc thửa đất và quá trình sử dụng đất của ông V1, bà T: Căn cứ vào hồ sơ quản lý đất đai do UBND xã H, huyện Tứ Kỳ cung cấp: Thửa đất số 12, tờ bản đồ số 6, diện tích 248m2 tọa lạc tại thôn T, xã H, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơngcó nguồn gốc đất ông cha, nằm trong tổng diện tích đất 336m2 đăng ký trong hồ sơ địa chính khi thực hiện Chỉ thị 299TTg đứng tên cụ Nguyễn Thị V (mẹ đẻ ông V1, ông V). Đến năm 1993, gia đình đã tách làm 02 phần diện tích, trong đó một phần cho ông V và thửa đất 12 cho ông V1. Thửa đất trên đã đƣợc UBND tỉnh Hải Hƣng (nay là UBND tỉnh Hải Dƣơng) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Trần Văn V (tức Trần Xuân V1) ngày 03/11/1993, đến ngày 05/6/2002 đƣợc UBND huyện Tứ Kỳ ký xác nhận hợp pháp hóa trang 3 giấy chứng nhận. Ông V1 xác định lấy bà T năm 1982 nhƣng không đăng ký kết hôn, trong khi bà T xác định có kết hôn với ông V1 năm 1981 hiện giấy chứng nhận đăng ký kết hôn không còn, UBND xã H không còn lƣu sổ đăng ký kết hôn của ông bà. Nhƣng cả ông V1, bà T đều thừa nhận sau khi ông bà lấy nhau bố mẹ mới tách đất cho con, mặc dù giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ đứng tên một mình ông V1 và ông V1 cho rằng bố mẹ tách đất cho riêng ông năm 1986. Theo điểm a khoản 3 Nghị quyết 35 của Quốc hội thì quan hệ vợ chồng đƣợc xác lập trƣớc ngày 03/01/1987 vẫn là hôn nhân hợp pháp và theo quy định tại Điều 15 Luật hôn nhân gia đình 1959 thửa đất trên và các tài sản trên đất là tài sản chung của vợ chồng ông V1, bà T.

Về giao dịch chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông V1, bà T với vợ chồng ông C, bà T1 và giao dịch chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất giữa ông C, bà T1 với vợ chồng ông V, bà H và yêu cầu khởi kiện của ông V, thấy rằng;

Cả nguyên đơn, bị đơn và những ngƣời làm chứng đều thống nhất trình bày, năm 2002, do hoàn cảnh kinh tế khó khăn và mâu thuẫn vợ chồng, nên ông V1 đã bán nhà đất của vợ chồng để chia đôi tiền mỗi ngƣời một nửa. Tuy nhiên các bên không thống nhất với nhau về ngƣời nhận chuyển nhƣợng nhà đất. Theo ông V1 xác định vợ chồng ông bán thửa đất số 12 cho vợ chồng ông C, bà T1, hai bên có viết giấy bán đề ngày 04/6/2002 âm lịch với giá 2.000.000 đồng, có chữ ký các bên và xác nhận của chính quyền địa phƣơng, nhƣng thực tế là bán nhà đất với giá 10.000.000 đồng và ông C, bà T1 là trọng tài chia đôi cho ông bà mỗi ngƣời 5.000.000 đồng, có sự chứng kiến của ông V, giấy bán và giấy chứng nhận QSD đất giao cho ông C quản lý nhƣng ông V cầm luôn, đối với số tiền 5.000.000 đồng phần của bà T thì không biết bà T nhận chƣa, phần của ông, ông chƣa đƣợc nhận. Năm 2016, ông C, bà T1 gọi ông về trao đổi do không có nhu cầu mua nữa nên ông C trả lại đất cho ông, ông khẳng định không bán nhà đất cho ông V, bà H. Ông V, bà H trình bày sau khi biết vợ chồng ông V1, bà T bán nhà đất của vợ chồng để chia tài sản, vợ chồng ông có nhu cầu mua để giữ đất ông cha, tuy nhiên do anh em bất hòa nên ông nhờ ông C, bà T1 đứng ra mua hộ cho vợ chồng ông còn tiền thì vợ chồng ông là ngƣời trực tiếp trả cho vợ chồng ông V1, bà T, mặc dù nhờ mua hộ nhƣng vợ chồng ông và vợ chồng ông C, bà T1 vẫn lập giấy mua bán đề ngày 17/05/2002, theo đó ông Trần Xuân C, bà Phạm Thị T1 mua nhà đất của ông V1, bà T với giá là 2.000.000 đồng, ông C, bà T1 quyết định chuyển nhƣợng lại toàn bộ nhà đất và tài sản gắn liền với đất cho vợ chồng ông. Lý do có giấy mua nhà đất giữa vợ chồng ông và vợ chồng ông C, bà T1 lập ngày 17/5/2002 vì lúc đó anh em đã thống nhất với nhau nhƣ vậy, còn tiền ông bà chƣa gom đủ để trả cho vợ chồng ông V1, bà T. Đến ngày 04/6/2002 ông chuẩn bị đủ tiền thì cũng là ngày ông V1, bà T chính thức làm giấy bán cho ông C, bà T1, mặc dù các giấy bán chỉ ghi giá bán là 2.000.000 đồng là để giảm tiền thuế đất, thực tế ông bà mua là 10.000.000 đồng, phần tiền của bà T 5.000.000 đồng vợ chồng ông đã trả đủ cho bà T và cũng trả đủ 5.000.000 đồng cho ông V1 có sự chứng kiến của ông C, bà T1, do đều là anh chị em trong gia đình nên không làm giấy biên nhận. Ông C, bà T1 trình bày có mua đất của ông V1, bà T cho con thời điểm năm 2002, sau đó con trai ông bà không có nhu cầu sử dụng nên đã trả lại cho ông V1 và không thừa nhận ông bà mua nhà đất của ông V1 bán cho vợ chồng ông V hay mua hộ vợ chồng ông V và không thừa nhận chữ viết, chữ ký trong đơn bán đất ngày 04/6/2002 và giấy xác nhận ngày 08/8/2018. Để làm rõ bản chất sự thật khách quan của việc mua bán này, Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của những ngƣời có liên quan gồm có bà Nguyễn Thị T (vợ ông V1), anh Trần Quang K (là cháu), bà Trần Thị Q và ông Nguyễn Nam X (chí gái, anh rể) đều thống nhất xác định vào tháng 6 năm 2002 vợ chồng ông C, bà T1 có đứng ra mua nhà đất của vợ chồng ông V1 hộ vợ chồng ông V (tức về bản chất là vợ chồng ông V mua nhà đất của vợ chồng ông V1), phù hợp với lời khai của chính bà T xác định năm 2002, ông V1 gọi điện cho bà bán nhà đất của vợ chồng, cho ba mẹ con bà một nửa (tức cho ba mẹ con bà 5.000.000 đồng), bán nhà đất cho chú V thì về nhà chú V lấy tiền, bà đã về nhà ông V nhận tiền hai lần, một lần nhận 3.000.000 đồng và lần sau nhận 2.000.000 đồng, phù hợp với chính giấy xác nhận ngày 08/8/2018 của ông C, bà T1 đã đƣợc giám định xác định chữ viết và chữ ký trong giấy biên nhận với các tài liệu mẫu so sánh là do cùng một ngƣời viết và ký ra, trong đó ông C, bà T1 xác nhận có đứng ra mua đất của ông V1 hộ ông V còn tiền mua nhà đất là do vợ chồng ông V trả cho vợ chồng ông V1. Từ những căn cứ nêu trên, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: ông V, bà H có mua nhà đất của vợ chồng ông V1, bà T tại thôn T, xã H với giá 10.000.000 đồng.

Về thanh toán tiền mua nhà đất: Các đƣơng sự đều thống nhất ông V1, bà T bán nhà đất của vợ chồng với giá 10.000.000 đồng, chia mỗi ngƣời ½ số tiền trên, theo đó ông V1 và bà T mỗi ngƣời đƣợc nhận số tiền 5.000.000 đồng là theo đề nghị của ông V1, mặc dù bà T không đƣợc ông V1 bàn bạc về việc bán nhà đất, không ký vào giấy bán nhƣng bà T cũng nhất trí với quan điểm của ông V1 về bán nhà đất của vợ chồng và đã về nhận của ông V hai lần tiền đủ 5.000.000 đồng và đến nay quyền lợi của bà đã đƣợc bảo đảm, bà không có ý kiến gì về việc ông V1 bán nhà đất và không có yêu cầu đề nghị gì. Đối với phần tiền trả cho ông V1 5.000.000 đồng, các đƣơng sự không thống nhất. Theo ông V xác định đã trả đủ phần tiền 5.000.000 đồng cho ông V1, nhƣng ông V1 xác định chƣa nhận đƣợc phần tiền bán đất của ông 5.000.000 đồng, HĐXX thấy rằng: trong các đơn đề nghị và lời khai của ông V1 có nhiều mâu thuẫn về việc nhận tiền bán đất và mâu thuẫn với chính mục đích bán nhà đất của mình, vì chính ông khai do phải đi làm kinh tế và mâu thuẫn vợ chồng mới bán đất, nhƣng phần tiền của ông đã làm giấy cho anh Trần Quang K (là cháu) vay tính lãi ngân hàng, nhƣng có lời khai ông lại xác định đã nhận 2.000.000 đồng tiền bán đất từ vợ chồng ông C, bà T1. Trong khi chính ông C, bà T1 đã xác định là mua đất hộ vợ chồng ông V, tiền đất do vợ chồng ông V trả trực tiếp cho vợ chồng ông V1. Hơn nữa, từ sau khi bán đất cho đến khi ông V gửi đơn lên UBND xã để giải quyết, mặc dù ông V1 nhiều lần về địa phƣơng, biết ông V là ngƣời quản lý nhà đất và xây công trình phụ trên đất nhƣng không phản đối, cũng không yêu cầu ông V trả tiền mua đất. Năm 2017, khi ông V đến nhà nói chuyện với ông V1 về việc có nhu cầu mua lại nhà đất mà trƣớc đây đã bán cho ông V không, đã đƣợc ông V ghi âm lại, đã đƣợc Tòa án mở công khai tại phiên tòa và đƣợc bà T (vợ) và bà Q (chị ruột) xác định ngƣời nói câu“Bán nhà đất 10 triệu đồng tao được có 5 triệu, 5 triệu tao cho cu K vay tính lời ngân hàng đến khi con nhạn lấy chồng thì lấy mua vàng tặng cho con N, có chị Q và bà đứng chụp ảnh cùng” chính là giọng nói của ông V1, phù hợp với lời khai của bà Trần Thị Q xác định sau thời điểm bán đất, ông V1 có gửi bà 1.000.000 đồng và nói đây tiền bán đất còn lại gửi bà giữ hộ, khi nào con gái ông V1 lấy chồng thì nhờ bà đánh cho cháu dây chuyền, phù hợp với lời khai của bà T là đã nhận phần tiền bán đất do ông V trả. Từ những căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở xác định ông Trần Xuân V đã trả đủ phần tiền bán đất cho ông V1 5 triệu đồng và trả đủ cho vợ chồng ông V1, bà T tổng số tiền mua nhà đất là 10.000.000 đồng.

Xét yêu cầu của nguyên đơn thấy rằng: Từ những phân tích nêu trên đã xác định ông V, bà H mua nhà đất của vợ chồng ông V1, bà T với giá 10.000.000 đồng và đã thanh toán cho bà T 5.000.000 đồng, ông V1 5.000.000 đồng. Mặc dù ông V xuất trình 02 giấy mua bán nhà đất gồm: 01 giấy mua bán đất đề ngày 04/6/2002 âm lịch giữa bên chuyển nhƣợng là ông V1, bà T và bên nhận chuyển nhƣợng ông C, bà T1, có chữ ký xác nhận của chính quyền địa phƣơng UBND xã H (bản chính) và 01 giấy pho to đề ngày 17/5/2002 âm lịch có nội dung ông C bà T1 mua nhà đất của ông V1, bà T chuyển nhƣợng cho vợ chồng ông. Tuy nhiên đánh giá về hai giấy mua bán này chƣa đảm bảo về mặt hình thức của giao dịch, về giá bán thực tế nhà đất, chƣa làm thủ tục tại cơ quan có thẩm quyền, không logic với nhau về mặt thời gian và cũng chỉ nhằm mục chứng minh cho việc ông V, bà H mua nhà đất của vợ chồng ông V1, bà T, do đó các giấy trên không có giá trị pháp lý. Mặc dù giao dịch chuyển nhƣợng nhà đất giữa vợ chồng ông V1, bà T cho vợ chồng ông V, bà H chƣa tuân thủ đúng về trình tự, thủ tục theo quy định, tuy nhiên ông V, bà H đã trả hết tiền, nhận và quản lý nhà đất từ năm 2002 đến nay, quá trình quản lý, ông V đã xây dựng công trình phụ, mặc dù ông V1 biết nhƣng không phản đối và cũng không yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu mà chỉ yêu cầu vợ chồng ông V, bà H phải thanh toán ½ giá trị thửa đất theo giá thị trƣờng cho ông. Do đó cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, công nhận giao dịch chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 12, tờ bản đồ số 6, diện tích 251m2 (theo kết quả đo đạc xem xét thẩm định tại chỗ) tại thôn T, xã H, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng giữa ông Trần Xuân V, bà Vũ Thị H và vợ chồng ông Trần Xuân V1, bà Nguyễn Thị T có hiệu lực và công nhận thửa đất và tài sản gắn liền với đất là của vợ chồng ông V, bà H.

Xét yêu cầu của ông V1 buộc ông V, bà H phải trả cho ông một nửa giá trị thửa đất theo giá thị trƣờng, HĐXX thấy rằng: Do vợ chồng ông V đã trả đủ tiền mua nhà đất cho vợ chồng ông V1 nên không có căn cứ chấp nhận đề nghị mà bị đơn đã đƣa ra.

Do xác định thửa đất số 12, tờ bản đồ số 6 thuộc quyền sử dụng của vợ chồng ông V, bà H nên đối với đoạn tƣờng bao phía bắc là tƣờng do vợ chồng anh K, chị H xây dựng, ranh giới đất là tim tƣờng bao, do đó đoạn tƣờng trên là tƣờng chung do hai gia đình cùng sử dụng. Đối với phần lán tôn do vợ chồng anh K, chị H xây dựng có lấn sang đất của vợ chồng ông V, bà H diện tích 0,2m2 và một số cây chuối do anh K trồng trên đất, khi nào ông V, bà H sử dụng đất và có yêu cầuvợ chồng anh K phải tự tháo dỡ phần lán tôn và đƣợc quyền thu hoạch chuối hoặcđánh chuyển đi nơi khác;

Đối với phần đất mà ông V, bà H lấn ra phía sau diện tích 8,2m2, trên đất có một đoạn tƣờng ba banh và một phần chuồng lợn do ông V xây dựng. Đây là đất công do UBND xã H quản lý, hiện địa phƣơng chƣa xử lý thì ông V, bà H đƣợc tạm thời sử dụng công trình trên, khi nào xử lý thì ông V, bà H phải nghiêm chỉnh chấp hành.

Trƣớc đây, khi xây dựng công trình phụ trên đất của mình, vợ chồng ông V có lấn sang đất của ông V1. Nay xác định thửa đất mà có phần công trình của ông V lấn sang cũng vẫn là đất của ông bà, do đó ông bà sẽ tự phân định và điều chỉnh cho phù hợp mục đích sử dụng.

Về chi phí xem xét thẩm định, định giá, giám định: Quá trình giải quyết vụ án, ông V đã tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định, định giá và giám định tài liệu tổng số tiền 6.500.000 đồng và yêu cầu bị đơn phải có trách nhiệm hoàn trả. Do yêu cầu của nguyên đơn đƣợc chấp nhận, vì vậy, buộc ông V1 phải hoàn trả cho vợ chồng ông V khoản tiền trên.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đƣợc chấp nhận nên ông V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và đƣợc hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Ông V1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, nhƣng do là ngƣời cao tuổi và có đơn đề nghị đƣợc miễn án phí nên HĐXX miễn án phí cho ông V1 là phù hợp với quy định tại Điều 47 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 7 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điều 15 Luật hôn nhân gia đình năm 1959; Điều 38 Luật đất đai năm 1993; các điều 133, 690, 691, 693, 705, 709, 710, 711, 712, 713 BLDS 1995; khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26, khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣợng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Xuân V.

Công nhận giao dịch chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất giữa ông Trần Xuân V, bà Vũ Thị H với ông Trần Xuân V1, bà Nguyễn Thị T đƣợc xác lập ngày 04/6/2002 âm lịch có hiệu lực pháp luật.

Giao cho ông Trần Xuân V, bà Vũ Thị H đƣợc quyền sử dụng 251m2 đất và công trình, tài sản trên đất tại thửa đất số 12 tờ bản đồ số 06, địa chỉ thôn T, xã H, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng, có kích thƣớc các cạnh nhƣ sau: Phía đông giáp đƣờng xóm 9,0m; phía tây giáp đất UBND xã H 8,2m; phía Bắc giáp đất anh K, chị H 7,48+22,52m; phía Nam giáp đất ông V, bà H 29m; (có sơ đồ chi tiết kèm theo).

Đối với đoạn tƣờng bao xây gạch ba banh phía bắc là tƣờng chung, vợ chồng ông Trần Xuân V, bà Vũ Thị H và vợ chồng anh Trần Quang K, chị Mai Thị H cùng sử dụng. Anh K, chị H tạm thời sử dụng phần mái tôn lấn sang đất ông V, bà H 0,2m2, một số cây chuối trồng trên đất, anh K đƣợc quyền thu hoạch, khi ông V, bà H sử dụng đất và có yêu cầu, anh K, chị H phải tự tháo dỡ phần mái tôn đua sang và phải đánh chuyển các cây chuối đi nơi khác; Đối với phần đất 8,2m2 mà ông V, bà H lấn chiếm là đất do UBND xã H quản lý, trên đất có một đoạn tƣờng ba banh và một phần chuồng lợn do ông V, bà H xây dựng. Ông V, bà H tạm thời đƣợc sử dụng các công trình trên đất, khi Nhà nƣớc hoặc chính quyền địa phƣơng xử lý thì ông V, bà H phải nghiêm chỉnh chấp hành.

Ông V, bà H có trách nhiệm liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.

2. Về tiền chi phí đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản và chi phí giám định: Ông Trần Xuân V1 phải thanh toán trả cho ông Trần Xuân V, bà Vũ Thị H 6.500.000 đồng tiền chi phí đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ và giám định tài liệu.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Về án phí: Hoàn trả ông Trần Xuân V 3.750.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2017/0009738 ngày 20/02/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.

Miễn toàn bộ án phí sơ thẩm dân sự cho ông Trần Xuân V1.

4. Về quyền kháng cáo: Ông V, bà H đƣợc quyền kháng cáo bản án; ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt đƣợc quyền kháng cáo về phần có liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo về phần có liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ