- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mùi Văn T tàng trữ TPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Mùi Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự
| `TAND HUYỆN V H TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2021/HS-ST Ngày 02 tháng 11 năm 2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V H, TỈNH SƠN LA
- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Quang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Quách Công Cầm và bà Bàn Thị Xuân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bàn Văn Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện VH, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyệnVH tham gia phiên tòa: Ông Tráng A Trư - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 11 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện VH, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2021/TLST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2021/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2021, đối với bị cáo:
Mùi Văn T, tên gọi khác: Không, sinh năm 1975, tại VH, Sơn La.
Nơi cư trú: Bản T, xã X N, huyện VH, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; đảng phái, đoàn thể: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Mùi Văn Ằ (đã chết) và bà Lường Thị P; bị cáo có vợ là Đinh Thị Th (đã chết), bị cáo có 02 con. Con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2001.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại bản án số 72/2014/HSST, ngày 26/8/2014 bị Tòa án nhân dân huyện VH, tỉnh Sơn La tuyên phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, áp dụng khoản 1 điều 194 BLHS 1999, chấp hành xong án phạt tù ngày 12/02/2016, chấp hành xong án phí HSST ngày 26/8/2014.
Bị bắt tạm giam, tạm giữ từ ngày 26/7/2021 cho đến nay. Có mặt.
Người có QLNVLQ: Anh Mùi Văn Đ, sinh năm 1997, địa chỉ: Bản T, xã X N, huyện VH, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ 30 phút, ngày 26/7/2021, tại bản Th, xã X N, huyện VH, tỉnh Sơn La. Tổ công tác công an xã X Nh, huyện VH kiểm tra xe máy BKS 31 – 423 – V8 do Mùi Văn T điều khiển. Quá trình kiểm tra, Mùi Văn T tự giác lấy từ trong hậu môn ra 01 gói, bên ngoài được gói bằng nhiều lớp nilon, bên trong cùng đựng 10 viên nén màu hồng, bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY, T khai nhận đều là ma túy tổng hợp (Methamphetamine) tàng trữ để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản, niêm phong số ma túy, tạm giữ của T 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Win, màu sơn đen, BKS 31 – 423 – V8, số khung MH1HA000SSK134231, số máy HAE – 2234141 đã qua sử dụng; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy mang tên Hoàng Bá Nghị; 01 Giấy phép lái xe hạng A1 số 140054008989 mang tên Mùi Văn T, 01 mũ bảo hiểm màu đen phía trước có chữ ADIDAS màu trắng, loại mũ nửa đầu, đã qua sử dụng và dẫn giải T cùng tang vật về CQĐT để xử lý.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành cân tịnh 10 viên nén màu hồng thu giữ của Mùi Văn T xác định được tổng khối lượng là 0,95 gam, lấy toàn bộ 0,95 gam làm mẫu gửi giám định, ký hiệu T.
Kết luận giám định số 1345/KLMT ngày 29/7/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận "Mẫu giám định ký hiệu T là ma túy; Loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,95 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,95 gam, loại Methamphetamine. Hoàn lại đối tượng giám định: Chất bột màu hồng thuộc mẫu gửi giám định ký hiệu T, không sử dụng đến trong quá trình giám định, có khối lượng 0,41 gam””.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Do nghiện chất ma túy, khoảng 10 giờ ngày 26/7/2021 T điều khiển xe máy BKS 31 – 423 – V8 đi lên xóm Thung Mặn, xã Hang Kia, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình tìm mua ma túy về sử dụng. Đến khu vực Nà Dếnh, thuộc bản Nà An, xã X Nh, huyện VH, tỉnh Sơn La, thì gặp một cháu gái người Mông, khoảng 12 tuổi. T hỏi và mua được của cháu gái này 10 viên Hồng Phiến được gói bằng nilon màu vàng với giá 300.000 đồng. T cất giấu gói ma túy vào trong hậu môn rồi điều khiển xe máy quay về. Khi T điều khiển xe máy đến địa phận bản Th, xã X N, huyện VH thì bị Tổ công tác Công an xã X Nh phát hiện bắt giữ.
Quá trình điều tra Mùi Văn T khai: Chiếc xe máy BKS 31 – 423 – V8 T dùng làm phương tiện phạm tội thuộc quyền sở hữu của anh Mùi Văn Đ, sinh năm 1997 (là con trai T). Hiện Mùi Văn Đ không có mặt tại địa phương.
Cáo trạng số 102/CT – VKS ngày 20/10/2021 của VKSND huyện VH, truy tố Mùi Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 điều 249 BLHS. Tại phiên tòa, kiểm sát viên vẫn bảo vệ nội dung Cáo trạng truy tố bị cáo, đề nghị HĐXX xem xét: Tuyên bố Mùi Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
* Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt: Mùi Văn T từ 21 đến 24 tháng tù.
+ Không phạt bổ sung đối với bị cáo; áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu để tiêu huỷ: 01 phong bì còn nguyên niêm phong bên trong đựng vỏ phong bì cũ gửi giám định + 0,41gam Methamphetamine; 01 phong bì còn nguyên niêm phong bên trong đựng vỏ gói + phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Mùi Văn T.
+ Trả lại bị cáo: 01 Giấy phép lái xe hạng A1 số 140054008989 mang tên Mùi Văn T, 01 mũ bảo hiểm màu đen phía trước có chữ ADIDAS màu trắng, loại mũ nửa đầu, đã qua sử dụng.
+ Trả lại anh Mùi Văn Đ: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Win, màu sơn đen, BKS 31 – 423 – V8, số khung MH1HA000SSK134231, số máy HAE – 2234141 đã qua sử dụng, không kiểm tra máy móc bên trong; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy mang tên Hoàng Bá Nghị.
+ Bị cáo sống nơi có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, đề nghị HĐXX miễn án phí HSST cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Ngày 26/7/2021, Mùi Văn T bị phát hiện bắt quả tang tàng trữ trái phép 0,95 gam ma túy tổng hợp (Methamphetamine) mục đích sử dụng. Hành vi của bị cáo đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 BLHS. Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản ghi lời khai, hỏi cung, bản tự khai của bị cáo, Kết luận giám định chất ma túy của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa...
Tính chất hành vi của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý, là nguyên nhân phát sinh tội phạm khác. Bị cáo nghiện ma túy, đã từng bị xử phạt tù về tội phạm ma túy, không biết ăn năn hối cải. Do vậy, cần áp dụng hình phạt tương xứng đối với hành vi phạm tội của bị cáo, để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo T khẩn khai báo, nên được xem xét cho hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS.
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện VH, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện VH, Kiểm sát viên trong qua trình điều tra, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. HĐXX xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án Điều tra viên, Kiểm sát viên chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 điều 249 BLHS, bị cáo còn có thể bị phạt tiền. Xét thấy bị cáo nghiện ma tuý, không có tài sản có giá trị, không có khả năng thi hành, nên không áp dụng phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Vật chứng của vụ án: 01 phong bì còn nguyên niêm phong bên trong đựng vỏ phong bì cũ gửi giám định + 0,41gam Methamphetamine; 01 phong bì còn nguyên niêm phong bên trong đựng vỏ gói + phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Mùi Văn T, là những vật bị cấm lưu hành hoặc không có giá trị sử dụng, cần tuyên tịch thu để tiêu hủy.
+ 01 Giấy phép lái xe hạng A1 số 140054008989 mang tên Mùi Văn T, 01 mũ bảo hiểm màu đen phía trước có chữ ADIDAS màu trắng, loại mũ nửa đầu, đã qua sử dụng, là tài sản của bị cáo, không liên quan đến tội phạm, cần tuyên trả lại cho bị cáo.
+ 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Win, màu sơn đen, BKS 31 – 423 – V8, số khung MH1HA000SSK134231, số máy HAE – 2234141 đã qua sử dụng, không kiểm tra máy móc bên trong; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy mang tên Hoàng Bá Nghị, là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội. Bị cáo là người thân thích với Mùi Văn Đ (là bố đẻ và con trai), nhưng không liên lạc được với nhau dù biết con trai đang làm ở Hà Nội. Ngoài lời khai của bị cáo, các chứng cứ khác không có căn cứ xác định được người đứng tên đăng ký xe (Hoàng Bá Nghị), không có căn cứ xác định chiếc xe thuộc quyền sở hữu anh Mùi Văn Đ (con trai bị cáo). Bị cáo đã liên tục sử dụng chiếc xe này từ năm 2016 đến nay, do vậy, HĐXX xác định đây là tài sản của bị cáo, đã dùng vào việc phạm tội, cần tuyên tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Về nguồn gốc chất ma túy: Cháu gái người dân tộc Mông bán ma túy cho bị cáo. Do bị cáo không biết tên, địa chỉ. Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý trong vụ án này, không đặt vấn xem xét.
Bị cáo sống nơi có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, HĐXX miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự;
1. Tuyên bố bị cáo Mùi Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt: 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tình từ ngày 26/7/2021.
Không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Áp dụng các điểm a, c khoản 1 điều 47 BLHS, điểm a, c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Tịch thu để tiêu hủy: 01 phong bì còn nguyên niêm phong bên trong đựng vỏ phong bì cũ gửi giám định + 0,41gam Methamphetamine; 01 phong bì còn nguyên niêm phong bên trong đựng vỏ gói + phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Mùi Văn T.
+ Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Win, màu sơn đen, BKS 31 – 423 – V8, số khung MH1HA000SSK134231, số máy HAE – 2234141 đã qua sử dụng, không kiểm tra máy móc bên trong; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy mang tên Hoàng Bá Nghị.
+ Trả lại bị cáo: 01 Giấy phép lái xe hạng A1 số 140054008989 mang tên Mùi Văn T, 01 mũ bảo hiểm màu đen phía trước có chữ ADIDAS màu trắng, loại mũ nửa đầu, đã qua sử dụng.
Theo biên bản giao vật chứng số: 08/BBVC - CCTHA, ngày 22 tháng 10 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện VH.
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, người có QLNVLQ có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đươc bản án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAT
- VKS tỉnh, huyện
- CA huyện, CQ THAHS
- THADS
- Sở TP
- Trại Giam
- Bị cáo, người TGTT.
- Lưu HS.
Nguyễn Đăng Quang
- Lưu VP. T VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Hướng dẫn sử dụng mẫu số 27-HS:
Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại các điều 254, 260 và 423 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Tòa án khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo:
(1) và (4) nếu là Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, T phố thuộc tỉnh thì ghi tên Tòa án nhân dân quận (huyện, thị xã, T phố) gì thuộc tỉnh, T phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An); nếu là Tòa án nhân dân tỉnh, T phố trực thuộc trung ương thì ghi tên Tòa án nhân dân tỉnh, T phố trực thuộc trung ương (ví dụ: Tòa án nhân dân T phố Hà Nội); nếu là Tòa án quân sự khu vực thì ghi tên Tòa án quân sự khu vực gì thuộc quân khu, quân chủng nào; nếu là Tòa án quân sự quân khu, quân chủng thì ghi tên Tòa án quân sự quân khu, quân chủng (ví dụ: Tòa án quân sự Quân khu Thủ đô).
(2) ô thứ nhất ghi số Bản án, ô thứ hai ghi năm ra Bản án (ví dụ: 16/2017/HS-ST).
(3) ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày hoặc nghị án kéo dài.
(5) nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi đầy đủ họ tên của
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, bỏ dòng Thẩm phán..., đối với Hội thẩm nhân dân (quân nhân) chỉ ghi đầy đủ họ tên của hai Hội thẩm nhân dân (quân nhân); nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi đầy đủ họ tên của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Cần chú ý không ghi chức vụ của Thẩm phán; đối với vụ án hình sự thông thường thì không ghi chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân); đối với vụ án hình sự có bị cáo là người dưới 18 tuổi thì ghi nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Nếu vụ án do Tòa án quân sự giải quyết thì không ghi Ông (Bà) mà ghi cấp bậc quân hàm.
(6)ghi đầy đủ họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).
(7) ghi tên Viện kiểm sát như hướng dẫn tại (1); ghi họ tên Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
(8) trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ Trong các (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi Từ ngày đến ngày (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).
(9) nếu vụ án được xét xử tại trụ sở Tòa án thì ghi như hướng dẫn tại mục (1) (4). Nếu vụ án được xét xử lưu động thì ghi địa điểm nơi diễn ra phiên tòa.
(10) nếu xét xử kín thì thay cụm từ công khai bằng từ kín.
(11) và (12) ghi đầy đủ họ tên bị cáo và các bí danh, tên thường gọi khác (nếu có); nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh tính đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 8 tháng 15 ngày); nếu bị cáo trên 18 tuổi thì ghi ngày, tháng, năm sinh hoặc tuổi; ghi nơi đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, nơi sinh sống của bị cáo. Đối với tiền sự thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị xử lý đó tính đến ngày phạm tội chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật. Đối với tiền án thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị kết án đó tính đến ngày phạm tội chưa được xoá án. Về nhân thânghi án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật cụ thể các lần đó và ghi rõ là các án tích, xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật đó đã được xoá. Trường hợp bị cáo là pháp nhân thương mại thì ghi tên, địa chỉ trụ sở, tên người đại diện theo pháp luật, tiền án, tiền sự của pháp nhân thương mại và các thông tin cần thiết khác; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(13) ghi ngày bị cáo bị bắt, tạm giam; nếu trước đó bị cáo đã bị tạm giữ, bị bắt, tạm giam, thì ghi ngày bị tạm giữ, ngày bị bắt, tạm giam và ngày được cho tại ngoại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(14) và (15) nếu bị cáo có người đại diện hợp pháp thì ghi rõ họ tên của bị cáo đó (ví dụ: Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn A). Sau chữ là ghi quan hệ như thế nào với bị cáo (ví dụ: là bố của bị cáo); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(16) nếu có người bào chữa thì ghi đầy đủ họ tên của người bào chữa và họ tên của bị cáo được bào chữa; nếu người bào chữa là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào (ví dụ: Ông Trần B, Luật sư Văn phòng luật sư Vạn Xuân thuộc Đoàn luật sư tỉnh H bào chữa cho Nguyễn Văn C); nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bào chữa (ví dụ: Bà Lê Thị M, bào chữa viên nhân dân công tác tại Hội luật gia tỉnh M bào chữa cho Nguyễn Văn D); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(17), (18), (19), (20), (21), (22), (23) và (24) nếu có người nào tham gia tố tụng thì ghi đầy đủ họ tên, tuổi, nơi cư trú của người đó. Trường hợp bị hại là người bị xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự và là người dưới 18 tuổi, thì phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh của bị hại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(25) nếu bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có người bảo vệ quyền lợi cho họ, thì ghi đầy đủ họ tên của họ theo thứ tự; nếu người bảo vệ quyền lợi của đương sự là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào; nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bảo vệ quyền lợi cho đương sự; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi có mặt và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi vắng mặt.
(26) nếu có người tham gia tố tụng là người làm chứng thì ghi đầy đủ họ tên; nếu người tham gia tố tụng là người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật thì ghi đầy đủ họ tên, cơ quan công tác.
(27) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
(28) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ thự trong dấu [ ].
(29) tùy từng trường hợp mà ghi rõ căn cứ pháp luật để ra quyết định.
(30) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
(31) phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi đầy đủ họ tên của các T viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các bị cáo, các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì ghi như sau:
| Nơi nhận: Ghi những nơi mà Tòa án cấp sơ thẩm phải giao hoặc gửi bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 262 của Bộ luật Tố tụng hình sự và những nơi cần lưu bản án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) |