- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn B tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2021/HSST Ngày 25 tháng 01 năm 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
-----------------
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
* Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ánh Dương
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Kiểm.
2. Ông Tạ Quang Hải.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Lan Phương - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Tân Yên.
- Đại diện VKSND huyện Tân Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bộ – Kiểm sát viên .
Trong ngày 25 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 103/2020/HSST, ngày 31 tháng 12 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2021/HSST- QĐ ngày 12 tháng 01 năm 2021 đối với bị cáo:
* Họ và tên: Nguyễn Văn B, sinh năm 1985
- Tên gọi khác: Không;
Giới tính: Nam;
- Nơi cư trú: Thôn T, xã L, huyện T, tỉnh B.
- Quốc tịch: Việt Nam;
Dân tộc: Kinh;
Tôn giáo: Không;
- Nghề nghiệp: Tự do; Chức vụ: Không; Trình độ học vấn: 12/12;
- Họ và tên cha: Nguyễn Văn C (đã chết).
- Họ và tên mẹ: Vũ Thị N- sinh năm 1958.
- Vợ: Nguyễn Thị T- sinh năm 1988.
- Con: Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2017.
- Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai.
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Nhân thân:
+ Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 76A/QĐ-XPVPHC ngày 26/12/2013 của Công an phường L, thành phố B, tỉnh B xử phạt Nguyễn Văn B 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
+ Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 58/QĐ-XPVPHC ngày 15/6/2014 của Công an phường Trần Nguyên H, thành phố B, tỉnh B xử phạt Nguyễn Văn B 500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
+ Ngày 22/3/2016, Cơ quan điều tra Công an huyện T ra Quyết định khởi tố vụ án số 34 và quyết định khởi tố bị can số 56 đối với Nguyễn Văn B về tội “Cố ý gây thương tích”. Ngày 20/5/2016, Cơ quan điều tra Công an huyện T ra Quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự số 03 và Quyết định đình chỉ bị can số 04, do người bị hại có đơn rút yêu cầu khởi tố. Cùng ngày 20/5/2016, Trưởng công an huyện ra Quyết định xử phạt hành chính phạt tiền 750.000 đồng.
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/8/2020, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn B:
- Luật sư Giáp Thị V - Văn phòng Luật sư K - Đoàn Luật sư tỉnh Bắc Giang (Có mặt).
Địa chỉ: Số 99 đường Hùng Vương, phường Ngô Quyền, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang;
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1987 (Vắng mặt)
Cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn N, huyện T, tỉnh B.
- Bà Phạm Thị H, sinh năm 1956
(Vắng mặt)
Cư trú: Thôn T, xã L, huyện T, tỉnh B.
- Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1988
(Có mặt)
Cư trú: Thôn T, xã L, huyện T, tỉnh B.
* Người làm chứng:
- Anh Hoàng Văn Đ, sinh năm 1984 (Vắng mặt)
Cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn N, huyện T, tỉnh B.
- Anh Trần Văn T, sinh năm 1989 (Vắng mặt)
Cư trú: Thôn N, xã C, huyện T, tỉnh B.
- Anh Lê Văn D, sinh năm 1989
(Vắng mặt)
Cư trú: Thôn T, xã Tân T, huyện T, tỉnh B.
- Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1962 (Vắng mặt)
Cư trú: Thôn T, xã L, huyện T, tỉnh B.
* Người chứng kiến:
- Anh Đoàn Thanh B, sinh năm 1955 (Vắng mặt)
Cư trú: Thôn T, xã L, huyện T, tỉnh B.
- Anh Vũ Văn Đ, sinh năm 1985
(Vắng mặt)
Cư trú: Thôn T, xã L, huyện T, tỉnh B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 12/8/2020, Nguyễn Văn B, sinh năm 1985, trú tại Thôn T, xã L, huyện T, tỉnh B điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98B3- 047.02 đi từ nhà đến khu vực quán Karaoke 68 thuộc Thôn T, xã L, huyện T, tỉnh B với mục đích tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khi đến gần quán Karaoke 68 B điều khiển xe mô tô sang khu vực sân của nhà nghỉ Hoa Phượng thuộc Thôn T, xã L, huyện T, tỉnh B rồi để xe mô tô ở đó rồi B đi bộ sang quán Karaoke 68 của gia đình anh Hoàng Văn Đ, sinh năm 1984 ở tổ dân phố T, thị trấn N, huyện T. Tại đây, B gặp H, sinh năm 1987 trú tại tổ dân phố T, thị trấn N, huyện T, tỉnh B, do biết H có ma túy bán nên B hỏi mua ma túy của H và được H đồng ý. B đưa cho H số tiền 10.000.000 đồng, H cầm tiền và đưa lại cho B 01 (một) gói giấy, bên trong có 01 túi nilon màu trắng, bên trong đựng chất cục bột màu trắng là ma túy Heroine, B cầm gói ma túy H đưa ở tay trái đi vào sân nhà nghỉ Hoa Phượng lấy xe mô tô và điều khiển xe mô tô đi từ sân nhà nghỉ H ra hướng đường Quốc lộ 17 để về nhà. B điều khiển xe mô tô đi được khoảng 15 mét lúc này khoảng 12 giờ 20 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an huyện Tân Yên phối hợp với Công an xã Liên Sơn, huyện Tân Yên bắt quả tang B có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do sợ hãi B đã làm đổ xe mô tô đồng thời B đã thả gói ma túy đang cầm ở trên tay trái xuống mặt đường ngay cạnh chiếc xe mô tô bị đổ rồi B bỏ chạy vào nhà bà Phạm Thị H, sinh năm 1956 ở thôn T, xã L, huyện T thì bị lực lượng Công an huyện T truy bắt, khống chế và đưa B quay trở lại vị trí mà B đã thả gói ma túy xuống đường, đồng thời tiến hành lập biên bản, bắt người có hành vi phạm tội quả tang. Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang bao gồm:
- Thu giữ tại mặt đất ngay cạnh chiếc xe mô tô YAMAHA Janus biển kiểm soát 98B3- 047.02 của Nguyễn Văn B 01 gói giấy, bên trong có 01 (một) gói nilon màu trắng, bên trong đựng chất cục bột mầu trắng nghi là ma túy Heroine. được Cơ quan điều tra cho vào 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa có đường kẻ đỏ niêm phong trong một hộp giấy ký hiệu “QT”.
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Janus, màu sơn xanh, biển kiểm soát 98B3-047.02 (xe cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng).
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, số IMEI: 353101113363120 của Nguyễn Văn B.
Cùng ngày 12/8/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Yên đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở, đồ vật của Nguyễn Văn B. Kết quả khám xét không thu giữ gì liên quan đến hành vi phạm tội.
Ngày 13/8/2020, Nguyễn Văn B tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Yên: 01 áo phông cộc tay màu xanh lơ cổ tròn, trên phần ngực áo bên trái có chữ “Nike” màu đen, cổ áo phía sau có mác bằng vải màu đen có chữ “HGJ-HA” “4XL”, áo cũ đã qua sử dụng; 01 quần dài, dạng quần bò màu ghi phía sau của đai quần có tem mác bằng vải màu đen có chữ “DSQDEFUR2” quần cũ đã qua sử dụng.
Ngày 14/8/2020, Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Yên tiến hành thu giữ tại nhà bà Phạm Thị Hưng, sinh năm 1956 (ở cùng thôn với B): 01 đôi giầy da màu đen bên ngoài có chữ “POIOSS”.
Căn cứ lời khai của Nguyễn Văn B, ngày 15/8/2020 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Yên đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở, đồ vật của H. Kết quả khám xét không thu giữ gì liên quan đến ma túy.
Ngày 12/8/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã Quyết định trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B giám định mẫu vật được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “QT” có phải là ma túy không? Là loại ma túy gì? Có khối lượng bao nhiêu?
Tại Kết luận giám định số 1052/KL-KTHS ngày 13/8/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:
* Trong 01 (một) hộp giấy ký hiệu “QT” đã được niêm phong gửi giám định:
+ Trong 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa và đường kẻ màu đỏ:
- Chất cục bột màu trắng (đựng trong 01 (một) gói nilon màu trắng, được gói bọc ngoài bằng giấy) là ma túy, có khối lượng 26,494 gam, loại Heroine.
Quá trình điều tra Nguyễn Văn B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã đấu tranh với H tuy nhiên H không thừa nhận H đã gặp B và bán ma túy cho B như B đã khai. Cơ quan điều tra đã tiến hành cho B đối chất với H nhưng B và H vẫn giữ nguyên lời khai. Mặt khác, ngoài lời khai của B ra không có tài liệu, chứng cứ nào khác thể hiện việc H bán ma túy cho B vào ngày 12/8/2020 nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý đối với H.
Đối với Đoàn Văn Đ chủ quán Karaoke 68 không biết việc B và H trao đổi mua bán trái phép chất ma túy tại quán nên anh Điệp không vi phạm pháp luật.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Janus, màu sơn xanh, biển kiểm soát 98B3- 047.02, mang tên Nguyễn Thị Tập (vợ B), ngày 12/8/2020 B đã sử dụng xe mô tô này để đi mua ma túy.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, số IMEI: 353101113363120; 01 áo phông cộc tay màu xanh lơ cổ tròn, trên phần ngực áo bên trái có chữ “Nike” màu đen, cổ áo phía sau có mác bằng vải màu đen có chữ “HGJ-HA” “4XL”, áo cũ đã qua sử dụng; 01 quần dài, dạng quần bò màu ghi phía sau của đai quần có tem mắc bằng vải màu đen có chữ “DSQDEFUR2” quần cũ đã qua sử dụng là tài sản của B không sử dụng vào việc phạm tội.
Đối với 01 đôi giày da màu đen bên ngoài có chữ “POIOSS” là đôi giầy của B đánh rơi tại khu vực nhà bà Phạm Thị H khi bị bắt quả tang, B không sử dụng đôi giầy này vào việc phạm tội.
Bản Cáo trạng số: 01/CT-VKS, ngày 30/12/2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố Nguyễn Văn B về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm g khoản 02 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đồng thời đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
* Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
* Áp dụng điểm g khoản 02 khoản 5 Điều 249; điểm s điểm t khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn B từ 06 năm 10 tháng đến 07 năm 04 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/8/2020. Phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Nguyễn Văn B 10.000.000 đồng để sung quỹ nhà nước.
* Áp dụng khoản 1 Điều 47 của BLHS 2015; khoản 2 Điều 106 của BLTTHS 2015:
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) hộp giấy ký hiệu “QT”, bên trong có: 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa và đường kẻ màu đỏ bên trong đựng chất cục bột màu trắng (đựng trong 01 (một) gói nilon màu trắng, được gói bọc ngoài bằng giấy) là ma túy, có khối lượng 25,382 gam, loại Heroine được hoàn lại sau giám định.
- Trả lại bị cáo Nguyễn Văn B: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, số IMEI: 353101113363120; 01 áo phông cộc tay màu xanh lơ cổ tròn, trên phần ngực áo bên trái có chữ “Nike” màu đen, cổ áo phía sau có mác bằng vải màu đen có chữ “HGJ-HA” “4XL”, áo cũ đã qua sử dụng; 01 quần dài, dạng quần bò màu ghi phía sau của đai quần có tem mắc bằng vải màu đen có chữ “DSQDEFUR2” quần cũ đã qua sử dụng. Bộ quần áo trên được đựng trong 01 thùng bìa cát tông ký hiệu “TG”, được niên phong bằng dải niêm phong có dấu của Cơ quan CSĐT Công an huyện T và chữ ký cùng tên của những người tham gia niêm phong; 01 đôi giày da màu đen bên ngoài có chữ “POIOSS” nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Trả lại cho chị Nguyễn Thị T: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Janus, màu sơn xanh, biển kiểm soát 98B3- 047.02, xe cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn B là Luật sư Giáp Thị Vân phát biểu:
Nhất trí ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về hành vi phạm tội, tội danh, điều khoản áp dụng đối với bị cáo. Bị cáo thành khẩn và ăn năn hối cải, bị cáo giúp cơ quan điều tra phát hiện tội phạm theo điểm s điểm t khoản 01 Điều 51 BLHS. Gia đình bị cáo khó khăn. Đề nghị xử phạt bị cáo 05 năm tù và phạt bổ sung 5.000.000đồng
Bị cáo Nguyễn Văn B nói lời sau cùng: Đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Hồi 12 giờ 20 phút ngày 12/8/2020, tại đường bê tông thuộc Thôn T, xã L, huyện T, tỉnh B; Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang phối hợp với Công an xã Liên Sơn, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang bắt quả tang Nguyễn Văn B có hành vi tàng trữ trái phép 26,494 gam ma túy Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.
Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Bản tự khai, Bản tường trình và lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng cùng tang vật chứng là: 26,494 gam ma túy Heroine và kết quả giám định vật chứng. Như vậy, hành vi trên của bị cáo Nguyễn Văn B đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 02 Điều 249 của BLHS. Bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện T và kết luận của Kiểm sát viên truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự công cộng, xâm phạm sự độc quyền quản lý các chất gây nghiện của nhà nước. Vi phạm nghiêm trọng luật phòng chống ma túy. Ma tuý là hiểm hoạ cho đời sống cộng đồng, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác và là nguy cơ lây truyền các bệnh xã hội nguy hiểm như HIV, AIDS. Pháp luật đã nghiêm cấm mọi hành vi mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma tuý. Bị cáo đã tiếp tay cho việc tiêu thụ ma tuý. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo cho việc giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù với thời hạn nhất định để bị cáo có điều kiện tu dưỡng rèn luyện bản thân làm người có ích cho gia đình và xã hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở.
Cần áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền theo khoản 5 Điều 249 của BLHS đối với bị cáo Nguyễn Văn B để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy:
Nhân thân:
+ Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 76A/QĐ-XPVPHC ngày 26/12/2013 của Công an phường Lê Lợi, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt Nguyễn Văn B 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
+ Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 58/QĐ-XPVPHC ngày 15/6/2014 của Công an phường Trần N, thành phố B, tỉnh B xử phạt Nguyễn Văn B 500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
+ Ngày 22/3/2016, Cơ quan điều tra Công an huyện T ra Quyết định khởi tố vụ án số 34 và quyết định khởi tố bị can số 56 đối với Nguyễn Văn B về tội “Cố ý gây thương tích”. Ngày 20/5/2016, Cơ quan điều tra Công an huyện T ra Quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự số 03 và Quyết định đình chỉ bị can số 04, do người bị hại có đơn rút yêu cầu khởi tố. Cùng ngày 20/5/2016, Trưởng công an huyện ra Quyết định xử phạt hành chính phạt tiền 750.000 đồng.
Chứng tỏ bị cáo Nguyễn Văn B có nhân thân xấu.
Xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Không có.
Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải. Ngày 08/01/2021 Cơ quan điều tra Công an huyện T có giấy xác nhận số: 18/CV-CQĐT thể hiện bị cáo Nguyễn Văn B giúp CQĐT Công an huyện Tân Yên phát hiện tội phạm nên ngày 19/12/2020 đã triệt phá tụ điểm mua bán ma túy khác. Nên áp dụng tình tiết xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi lượng hình được quy định tại điểm s điểm t khoản 1 Điều 51của BLHS.
Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đưa ra về xử lý vật chứng là phù hợp, có cơ sở chấp nhận. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của BLTTHS:
Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) hộp giấy ký hiệu “QT”, bên trong có: 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa và đường kẻ màu đỏ bên trong đựng chất cục bột màu trắng (đựng trong 01 (một) gói nilon màu trắng, được gói bọc ngoài bằng giấy) là ma túy, có khối lượng 25,382 gam, loại Heroine được hoàn lại sau giám định.
Trả lại bị cáo Nguyễn Văn B: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, số IMEI: 353101113363120; 01 áo phông cộc tay màu xanh lơ cổ tròn, trên phần ngực áo bên trái có chữ “Nike” màu đen, cổ áo phía sau có mác bằng vải màu đen có chữ “HGJ-HA” “4XL”, áo cũ đã qua sử dụng; 01 quần dài, dạng quần bò màu ghi phía sau của đai quần có tem mắc bằng vải màu đen có chữ “DSQDEFUR2” quần cũ đã qua sử dụng. Bộ quần áo trên được đựng trong 01 thùng bìa cát tông ký hiệu “TG”, được niên phong bằng dải niêm phong có dấu của Cơ quan CSĐT Công an huyện Tân Yên và chữ ký cùng tên của những người tham gia niêm phong; 01 đôi giày da màu đen bên ngoài có chữ “POIOSS”, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Trả lại cho chị Nguyễn Thị T: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Janus, màu sơn xanh, biển kiểm soát 98B3- 047.02, xe cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng mà chị Nguyễn Thị T không biết bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã đấu tranh với H tuy nhiên H không thừa nhận H đã gặp B và bán ma túy cho B như B đã khai. Cơ quan điều tra đã tiến hành cho B đối chất với H nhưng B và H vẫn giữ nguyên lời khai. Mặt khác, ngoài lời khai của B ra không có tài liệu, chứng cứ nào khác thể hiện việc H bán ma túy cho B vào ngày 12/8/2020 nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý đối với H.
Đối với Đoàn Văn Điệp chủ quán Karaoke 68 không biết việc B và H trao đổi mua bán trái phép chất ma túy tại quán nên anh Điệp không vi phạm pháp luật.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH :
1. Căn cứ: Áp dụng điểm g khoản 02, khoản 5 Điều 249; điểm s điểm t khoản 01 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn B 06 năm 10 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 12/8/2020. Phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Nguyễn Văn B 10.000.000 đồng để sung quỹ nhà nước.
3. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của BLTTHS:
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) hộp giấy ký hiệu “QT”, bên trong có: 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa và đường kẻ màu đỏ bên trong đựng chất cục bột màu trắng (đựng trong 01 (một) gói nilon màu trắng, được gói bọc ngoài bằng giấy) là ma túy, có khối lượng 25,382 gam, loại Heroine được hoàn lại sau giám định.
- Trả lại bị cáo Nguyễn Văn B: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, số IMEI: 353101113363120; 01 áo phông cộc tay màu xanh lơ cổ tròn, trên phần ngực áo bên trái có chữ “Nike” màu đen, cổ áo phía sau có mác bằng vải màu đen có chữ “HGJ-HA” “4XL”, áo cũ đã qua sử dụng; 01 quần dài, dạng quần bò màu ghi phía sau của đai quần có tem mắc bằng vải màu đen có chữ “DSQDEFUR2” quần cũ đã qua sử dụng. Bộ quần áo trên được đựng trong 01 thùng bìa cát tông ký hiệu “TG”, được niên phong bằng dải niêm phong có dấu của Cơ quan CSĐT Công an huyện T và chữ ký cùng tên của những người tham gia niêm phong; 01 đôi giày da màu đen bên ngoài có chữ “POIOSS”, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Trả lại cho chị Nguyễn Thị Tập: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Janus, màu sơn xanh, biển kiểm soát 98B3- 047.02, xe cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng mà chị Nguyễn Thị Tập không biết bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
(Vật chứng theo Quyết định chuyển vật chứng số: 01/QĐ – VKS, ngày 30/12/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên).
4. Áp dụng khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Nguyễn Văn B phải chịu 200.000đồng án phí HSST.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án .
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt (hoặc niêm yết) bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiêụ thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện Tân Yên; - Công an huyện Tân Yên; - Chi cục THADS huyện Tân Yên; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng. - Lưu Hs, Vp. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |