vanban.org

Bản án 02/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu Tuyên án 25/10/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

bị cáo Lò Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Lò Văn L 01 năm 06 tháng (một năm sáu tháng) tù, được trừ 09 ngày bị cáo bị tạm giữ, bị cáo còn phải thi hành 01 năm 05 tháng 21 ngày (một năm năm tháng hai mươi mốt ngày) tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Lò Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
  • Tòa quyết gì? bị cáo Lò Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÌN HỒ
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2021/HS-ST
Ngày 25 tháng 10 năm 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Hằng Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tẩn Phàn Pao và Ông Tao Văn Xanh

Thư ký phiên tòa: Ông Hờ A Thái - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Kiều Thị Thắm - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 10 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2021/TLST-HS ngày 06 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2021/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo: Lò Văn L; sinh năm: 1971; nơi sinh: huyện SH, tỉnh LC; nơi cư trú: bản NH1, xã NH, huyện SH, tỉnh LC; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 3/10; dân tộc: T; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Lò Văn C (đã chết) và bà Lò Thị S (đã chết); có vợ là Lò Thị Ơ (sinh năm 1974) và 04 con (con lớn nhất sinh năm 1994, con nhỏ nhất sinh năm 2016); tiền án: 01 (tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 80/2016/HSST ngày 29 tháng 11 năm 2016 của Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ đã tuyên bố bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, tổng hợp hình phạt của hai tội là 4 năm 3 tháng tù; bị cáo chấp hành xong bản án ngày 08 tháng 3 năm 2020, đến thời điểm phạm tội lần này vào ngày 12 tháng 7 năm 2021 bị cáo chưa được xóa án tích; tiền sự: không; Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 13/2011/HSST ngày 19 tháng 11 năm 2011, bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu xử phạt 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo đã được xóa án tích đối với lần phạm tội này; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 12 tháng 7 năm 2021 đến ngày 21 tháng 7 năm 2021; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21 tháng 7 năm 2021 tại xã Noong Hẻo, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đến nay; có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Mạnh Hùng, là bào chữa viên thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý của Nhà nước tỉnh Lai Châu; vắng mặt - có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 11 tháng 7 năm 2021, do lên cơn nghiện nên bị cáo Lò Văn L cầm theo 500.000 đồng đi bộ từ nhà ở bản Noong Hẻo 1, xã Noong Hẻo, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đến bãi vàng thuộc bản Nậm Béo, xã Pu Sam Cáp, huyện Sìn Hồ tìm mua Heroine để sử dụng. Khi đến bãi vàng, L hỏi và biết được một người đàn ông tên là Giàng A Lử, khoảng 20 tuổi, L không rõ địa chỉ có bán Heroine. L tìm gặp Lử và đưa cho Lử 500.000 đồng để mua Heroine, Lử cầm tiền rồi quay đi, L đứng đợi khoảng 03 phút sau Lử quay lại đưa cho L 10 gói Heroine đều gói ngoài bằng nilon màu hồng. L cầm số Heroine mua được rồi đi đến khe nước gần đó sử dụng 01 gói, còn Lử đi đâu L không biết. Sử dụng xong Heroine, L nhặt một mảnh nilon màu đen gói 09 gói Heroine lại cho vào túi áo đang mặc rồi đi về nhà. Trưa ngày 12 tháng 7 năm 2021, L mang gói Heroine ra lấy 01 gói nhỏ để sử dụng, số còn lại L cất vào túi áo đang mặc. Đến khoảng 20 giờ ngày 12 tháng 7 năm 2021 L mang gói Heroine đi ra cửa định sử dụng thì bị Công an huyện Sìn Hồ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ toàn bộ 08 gói Heroine của L.

Tại Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng và trích mẫu giám định hồi 09 giờ 30 phút ngày 14 tháng 7 năm 2021 và bản Kết luận giám định tư pháp số: 60, ngày 14 tháng 7 năm 2021 của người giám định tư pháp theo vụ việc thuộc Công an huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu xác định: 08 gói chất bột màu trắng lần lượt ký hiệu từ M1 đến M8 có khối lượng: gói thứ nhất có khối lượng 0,05 gam; gói thứ hai có khối lượng 0,05 gam; gói thứ ba có khối lượng 0,06 gam; gói thứ tư có khối lượng 0,06 gam; gói thứ năm có khối lượng 0,05 gam; gói thứ sáu có khối lượng 0,06 gam; gói thứ bảy có khối lượng 0,05 gam; gói thứ tám có khối lượng 0,05 gam; tổng khối lượng của tám gói (sau khi đã loại bỏ bao bì bên ngoài) là: 0,43 gam và lấy toàn bộ 0,43 gam chất bột màu trắng thu giữ của L gửi đi giám định chất ma túy.

Tại Bản kết luận giám định số: 622/GĐ-KTHS ngày 18 tháng 7 năm 2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: 08 mẫu chất bột màu trắng (ký hiệu từ M1 đến M8) gửi giám định là ma túy; loại Heroine (không hoàn lại đối tượng giám định).

Tại Bản cáo trạng số: 57/CT-VKSSH ngày 05 tháng 10 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu để xét xử bị cáo Lò Văn L về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã truy tố, không oan, không sai.

Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, được trừ 09 ngày bị cáo bị tạm giữ; Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; Về xử lý vật chứng: đối với 0,43 gam Heroine đã được gửi đi giám định, sau khi giám định Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu không hoàn lại mẫu vật, nên không đề cập xử lý; Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: tiêu hủy 01 mảnh nilon màu đen và 08 mảnh nilon màu hồng là vật chứng còn lại trong vụ án.

Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo tại Bản luận cứ bào chữa: Đề nghị áp dụng khoản 1, 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự và các tình tiết về mục đích phạm tội, hậu quả của tội phạm, nhân thân bị cáo để xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho Lò Văn L. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; áp dụng điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 để xem xét, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình theo quy định tại Điều 42 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Người bào chữa đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định tại Điều 73 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Các tài liệu, chứng cứ được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định. Nên các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.

Đánh giá chứng cứ, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ được thu thập đúng trình tự thủ tục tố tụng hình sự đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Có đủ cơ sở để xác định bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như sau: Vào hồi 20 giờ ngày 12 tháng 7 năm 2021, tại bản Noong Hẻo 1, xã Noong Hẻo, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, bị cáo Lò Văn L đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,43 gam Heroine, với mục đích để bản thân sử dụng, thì bị Công an huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu phát hiện, bắt quả tang. Bị cáo Lò Văn L là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Do vậy, bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Những chứng cứ buộc tội, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ pháp luật, phù hợp với nhân thân của bị cáo, với mức độ nghiêm trọng, nguy hại cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Nên được chấp nhận toàn bộ.

Quan điểm bào chữa của người bào chữa tại phiên tòa là có căn cứ pháp luật, phù hợp với nhân thân của bị cáo, với mức độ nghiêm trọng, nguy hại cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, nên được chấp nhận.

Hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Bị cáo đã hai lần bị Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu tuyên phạm các tội về ma túy. Bị cáo đã được giáo dục, cải tạo bằng hình phạt tù, nhưng khi chấp hành xong hình phạt, được trở về với đời sống xã hội, bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân, vẫn không có ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, bị cáo tiếp tục tái nghiện chất ma túy và đã cố ý thực hiện hành vi mua, tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Cần áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để tiếp tục giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội; đồng thời giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật; đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 80/2016/HSST ngày 29 tháng 11 năm 2016 của Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ đã tuyên bố bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, tổng hợp hình phạt của hai tội là 4 năm 3 tháng tù; bị cáo chấp hành xong bản án ngày 08 tháng 3 năm 2020, đến thời điểm phạm tội lần này vào ngày 12 tháng 7 năm 2021 bị cáo chưa được xóa án tích. Lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “tái phạm”, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; bị cáo chỉ học đến lớp 3/10 nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Cha đẻ của bị cao là ông Lò Văn Cán là người có công với cách mạng, được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến (theo Nghị quyết số: 719-KT/HDNN ngày 15 tháng 8 năm 1985). Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự chi ân của Nhà nước với người thân của những người đã có công với cách mạng, thể hiện sự khoan hồng trong pháp luật của Nhà nước.

Về hình phạt bổ sung:

Xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, không có khả năng thi hành hình phạt tiền, hình phạt tịch thu tài sản; bị cáo không lao động trong các ngành, nghề hoặc đảm nhiệm công việc cần phải cấm; nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 0,43 gam Heroine đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu gửi đi giám định chất ma túy. Sau khi giám định và có kết luận, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu không hoàn lại mẫu vật, nên không đề cập xử lý.

Đối với 01 mảnh nilon màu đen và 08 mảnh nilon màu hồng đã được sử dụng để gói Heroine. Hiện nay mảnh giấy bạc này không có giá trị, không sử dụng được, cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự để tịch thu và tiêu hủy.

Về án phí:

Theo quy định tại Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế

- xã hội đặc biệt khó khăn, nên được miễn nộp tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo:

Theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Về nguồn gốc Heroine và trách nhiệm của người có liên quan:

Đối với người đàn ông tên là Giàng A Lử, khoảng 20 tuổi, theo lời khai của bị cáo là người đã bán Heroine cho bị cáo vào ngày 11 tháng 7 năm 2021. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công án huyện Sìn Hồ không xác định được công dân nào có nhận dạng như mô tả của bị cáo, nên không có căn cứ để điều tra, xử lý đối với người đã bán Heroine cho bị cáo.

Kiến nghị:

Ủy ban nhân dân xã Noong Hẻo, huyện Sìn Hồ, Phòng Tư pháp huyện Sìn Hồ tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân địa phương, để người dân hiểu rõ tác hại của việc sử dụng trái phép chất ma túy đối với bản thân của người nghiện, tác hại của tệ nạn ma túy đối với xã hội, để người dân không có những hành vi vi phạm pháp luật, đặc biệt là vi phạm pháp luật về ma túy.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, các Điều 135, 136, 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Tuyên bố:

bị cáo Lò Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2. Hình phạt chính:

Xử phạt bị cáo Lò Văn L 01 năm 06 tháng (một năm sáu tháng) tù, được trừ 09 ngày bị cáo bị tạm giữ, bị cáo còn phải thi hành 01 năm 05 tháng 21 ngày (một năm năm tháng hai mươi mốt ngày) tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

3. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

4. Xử lý vật chứng: Tiêu hủy 01 mảnh nilon màu đen và 08 mảnh nilon màu hồng.

5. Án phí sơ thẩm: Bị cáo được miễn nộp tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 25 tháng 10 năm 2021).

Cỡ chữ