vanban.org

Bản án 02/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 11/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh, hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Hà Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Xử phạt bị cáo Hà Văn Q 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 28/9/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn Q - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh, hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MAI CHÂU
TỈNH HOÀ BÌNH
–––––––––––
Bản án số: 02/2021/HS-ST

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ngày: 11-3-2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU, TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Tùng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hà Bá Khiên;

Ông Lường Khắc Tiệp.

- Thư ký phiên tòa: Bà Khà Thị Thanh Loan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Tú Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 3 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2021/TLST - HS ngày 14 tháng 01 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 02/2021/QĐXXST - HS ngày 19 tháng 01 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2021/HSST - QĐ ngày 01 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo:

Hà Văn Q, sinh ngày 01 tháng 5 năm 1987 tại huyện M, tỉnh Hòa Bình; nơi cư trú: Bản S, xã Ch, huyện M, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn Th, sinh năm 1964 và bà Hà Thị M, sinh năm 1966, bị cáo có vợ là Bùi Việt B (đã ly hôn) và có 01 con; tiền sự: Không; tiền án: 01 tiền án. Ngày 30/11/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La xử phạt 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tại bản án số: 126/2018/HSST, chấp hành xong hình phạt ngày 04/02/2020, (chưa được xóa án tích); nhân thân: Ngày 27/5/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Mai Châu xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tại bản án số: 08/2014/HSST chấp hành xong hình phạt ngày 30/01/2016, (đã được xóa án tích). Không bị xử lý hành chính, xử lý kỷ luật đã được xóa, có sử dụng, nghiện chất ma túy; bị cáo bị tạm giữ ngày 28/9/2020 chuyển tạm giam ngày 07/10/2020. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 28/9/2020, tổ công tác Công an huyện Mai Châu đang làm nhiệm vụ trên tuyến Quốc lộ 6, đoạn đường thuộc xóm S, xã T thì phát hiện Hà Văn Q đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 28H1-090.65 theo hướng Sơn La – Hà Nội có nhiều biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu dừng xe lại để kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện trong túi quần bên phải Q đang mặc có 02 gói nhỏ, trong đó 01 gói được gói bằng túi nilon màu trắng, bên trong có cục chất bột màu trắng; 01 gói được gói bằng nilon màu trắng, bên trong có 1 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng dùng để gói chất bột màu trắng và màu hồng. Q khai nhận đó là chất ma túy của Q mua về sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng và dẫn giải đối tượng về trụ sở Công an huyện Mai Châu để xử lý theo quy định.

Tại Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Châu, Hà Văn Q khai nhận về nguồn gốc số ma túy trên như sau:

Vào khoảng 06 giờ ngày 28/9/2020, Q điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 28H1-090.6x đi từ nhà lên bản C, xã L, huyện V, tỉnh Sơn La để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khi đến đoạn đường dân sinh thuộc bản C thì gặp 01 người đàn ông dân tộc Mông không quen biết, Q dừng lại hỏi mua ma túy với người đó. Người đó bán cho Q 01 cục Heroine và 01 viên ma túy tổng hợp với giá 150.000 đồng. Mua được ma túy, Q cất giấu vào túi quần đang mặc rồi điều khiển xe đi về nhà. Đến đoạn đường vắng người, Q dừng lại ven đường lấy viên ma túy tổng hợp và một ít Heroine nghiền ra, trộn vào nhau để sử dụng nhưng sử dụng không hết nên Q lấy tờ tiền 5.000 đồng gói lại rồi gói tiếp nilon màu trắng bên ngoài, còn cục chất bột màu trắng gói bằng nilon màu trắng. Q cất số ma túy vào túi quần bên phải đang mặc rồi điều khiển xe mô tô về. Khi đi đến đoạn đường thuộc xóm S, xã T thì bị tổ công tác bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.

Tại bản kết luận giám định số: 313/KLGĐ-CAT-PC09 ngày 05/10/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình đã kết luận: Chất bột dạng cục màu trắng trong phong bì niêm phong ghi tên Hà Văn Q gửi giám định có khối lượng 0,12 gam là ma túy, loại Heroine; Chất bột dạng cục màu trắng và chất bột màu hồng trong phong bì niêm phong ghi tên Hà Văn Q gửi giám định có khối lượng 0,11 gam là ma túy, loại Heroine và Methamphetamine.

Tại bản cáo trạng số: 05/CT-VKS-HS ngày 13/01/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu truy tố Hà Văn Q về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh, hình phạt: Đề nghị tuyên bố bị cáo Hà Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt Hà Văn Q từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 28/9/2020.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm ổn định, không có tài sản riêng, không có điều kiện thi hành nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án:

Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Đối với tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng Hà Văn Q dùng để gói ma túy sau khi không sử dụng hết, đã dùng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

- Đối với số ma túy thu được, sau khi giám định còn lại đã hoàn trả đề nghị tịch thu để tiêu hủy.

- Tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng và chất ma túy sau khi giám định còn lại đã hoàn trả nêu trên được niêm phong trong phong bì hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Châu, tình trạng, đặc điểm vật chứng được ghi trong Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số: 14/THA ngày 26/01/2021 giữa bên giao Công an huyện Mai Châu, bên nhận Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Châu).

Về các vấn đề khác:

- Đối với người đàn ông mà bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra không xác định được là ai. Do đó không đủ căn cứ để xử lý.

- Đối với xe mô tô, nhãn hiệu SUZUKI, màu đen có biển kiểm soát 28H1-090.6x, kết quả điều tra xác định chiếc xe trên thuộc sở hữu hợp pháp của ông Hà Văn Thỏa. Việc bị cáo lấy xe để đi tìm mua ma túy, ông Thỏa không biết, không có lỗi, Cơ quan điều tra tiến hành trả xe cho ông Thỏa là đúng quy định của pháp luật nên không đề nghị xem xét.

Đề nghị áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Ý kiến của bị cáo: Đã nhận được đầy đủ các văn bản tố tụng của cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án, quá trình điều tra, truy tố xét xử đã được phổ biến quyền và nghĩa vụ của mình, không bị ép cung, mớm cung, đồng ý với nội dung Cáo trạng và Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm không có thắc mắc gì. Do không làm chủ được bản thân, nghiện ma túy nên đã đi mua tàng trữ để sử dụng, không có mục đích gì khác. Sau sự việc xảy ra đã thành khẩn khai báo mong được sự khoan hồng của Nhà nước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Những chứng cứ xác định có tội: Bị cáo bị bắt, bị lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tại cơ quan điều tra và phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng, như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với vật chứng thu được, kết luận giám định cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ căn cứ để kết luận: Ngày 28/9/2020 tại khu vực xóm Suối Rút, xã Tòng Đậu, Hà Văn Q đang tàng trữ 0,12 gam Heroine và 0,11 gam Heroine và Methamphetamine. Như vậy có đủ căn cứ xác định bị cáo Hà Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Chứng cứ xác định không có tội: Không có.

Xét tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội:

Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, biết rõ tác hại của ma tuý đối với bản thân, gia đình và xã hội, trong khi Nhà nước và toàn thể xã hội đang tìm mọi biện pháp đẩy lùi tệ nạn ma tuý ra khỏi cộng đồng bởi tác hại rất lớn của nó. Song vì cần có chất ma tuý để sử dụng cho bản thân nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý Nhà nước về chất ma túy.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La xử phạt 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm nên bị coi là tình tiết tăng nặng Tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan Điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ tính chất mức độ, nguyên nhân, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo nêu trên, xét cần xử phạt tù có thời hạn với mức án nghiêm khắc, nhưng phù hợp đối với bị cáo, nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, tạm giam sau khi tuyên án và về các vấn đề khác mà đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đã có ý kiến đề nghị nêu trên. Xét thấy có căn cứ phù hợp quy định pháp luật cần xử lý, giải quyết theo hướng đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát.

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về án phí: Bị cáo Hà Văn Q phải nộp án phí theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh, hình phạt:

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

- Tuyên bố bị cáo Hà Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

- Xử phạt bị cáo Hà Văn Q 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 28/9/2020.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng của Hà Văn Q.

- Tịch thu toàn bộ số ma túy thu được sau khi giám định còn lại đã hoàn trả, để tiêu hủy.

(Vật chứng gồm tờ tiền và chất ma túy nêu trên được niêm phong trong phong bì hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Châu, tình trạng, đặc điểm vật chứng được ghi trong Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số: 14/THA ngày 26/01/2021 giữa bên giao Công an huyện Mai Châu, bên nhận Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Châu).

3. Về án phí:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Bị cáo Hà Văn Q phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Áp dụng Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình để xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ