- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mùa Vảng P - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỦA CHÙA TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2021/HS-ST Ngày 17-11-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỦA CHÙA, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trương Anh Tuấn Các Hội thẩm nhân dân: bà Lò Thị Hạnh và ông Lờ A Hùng
- Thư ký phiên tòa: bà Lò Thị Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 11 năm 2021, tại Trụ sở TAND huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên, Tòa án nhân dân huyện T tiến hành mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2021/TLST-HS ngày 15/10/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2021/QĐXXST-HS ngày 05/11/2021 đối với bị cáo: Họ và tên: Mùa Vảng P - Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh năm 1953, tại huyện T, tỉnh Điện Biên. Nơi cư trú: Bản H, xã X, huyện T, tỉnh Điện Biên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Nghề nghiệp: làm ruộng; Trình độ học vấn: 0/12; Con ông: Mùa A X (đã chết) và bà Giàng Thị M (đã chết); Vợ là Sùng Thị D - Sinh năm 1954 và 08 con; Tiền sự: Không. Tiền án: Không; Chức vụ đảng, chính quyền: không; Nhân thân: Bị cáo nghiện chất ma túy, năm 2014 bị TAND huyện T xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã được xóa án tích). Tạm giữ từ ngày 24/6/2021 đến ngày 27/6/2021, Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27/6/2021 đến nay. Bị cáo có mặt. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Mùa A S- sinh năm 1990, Nơi cư trú: Bản H, xã X, huyện T, tỉnh Điện Biên. Có mặt Người phiên dịch: ông Giàng A Dè – Sinh năm: 1985; Địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Điện Biên. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 24/6/2021 Bị cáo Mùa Vảng P một mình điều khiển xe mô tô đeo biển kiểm soát 27Z1- 157.47 từ nhà tại bản H, xã X, huyện T, tỉnh Điện Biên lên tổ dân phố Q, thị trấn T, huyện T để tìm mua ma túy sử dụng. Đến tổ dân phố Q, thị trấn T, Bị cáo dựng xe cách ngã ba khoảng 20 mét, Sau đó Bị cáo đi bộ vào phía trong tổ dân phố thì gặp một người phụ nữ dân tộc thái khoảng 40 tuổi, Bị cáo không biết tên tuổi địa chỉ, Bị cáo có hỏi và mua được của người phụ nữ này 01 gói ma túy được gói ngoài bằng miếng giấy nilon màu trắng với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được Bị cáo cất gói ma túy đó vào túi quần bên phải đang mặc rồi đi lang thang trong tổ dân phố khoảng một lúc, sau đó Bị cáo lấy xe và điều khiển xe đi về. Khi Bị cáo về đến đoạn đường thuộc bản H, xã X, huyện T thì gặp tổ công tác Công an huyện đang làm nhiệm vụ, tổ công tác đã phát hiện bắt quả tang Bị cáo về hành vi cất giấu trái phép chất ma túy và niêm phong số vật chứng theo quy định của pháp luật.
Vật chứng thu giữ của Bị cáo gồm:
+ 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy nilon màu trắng, bên trong là 01 lớp nilon màu đen, mở ra bên trong có 01 cục chất bột màu trắng đục thể rắn.
+ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe WAVE RSX, màu sơn: Đen - Đỏ; Đeo biển kiểm soát: 27Z1- 157.47
Ngày 25/6/2021, Cơ quan điều tra mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định, xác định vật chứng thu giữ của Bị cáo có khối lượng 1,23 gam; lấy 0,1542 gam làm mẫu vật gửi giám định, niêm phong vật chứng còn lại 1,0758 gam.
Kết luận giám định số 763/GĐ-PC09 ngày 06/7/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Mùa Vảng P gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine- có khối lượng 1,23 gam; Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy theo Nghị định số 73/2018/NĐ-CP của Chính Phủ. Không hoàn lại đối tượng giám định.
Cáo trạng số 36/CT-VKSHTC ngày 14 tháng 10 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố bị cáo Mùa Vảng P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về vật chứng, đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại, chấp nhận quyết định xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra về việc trả lại 01 chiếc xe mô tô cho Mùa A S và đề nghị miễn án phí hình sự cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố; Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về nội dung vụ án:
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi mua và tàng trữ trái phép chất ma túy phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến bắt quả tang bị cáo, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết quả thu giữ vật chứng; biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng và bản kết luận giám định.
Có đủ cơ sở kết luận ngày 24/6/2021 bị cáo đã mua được của 01 người phụ nữ không quen biết 01 gói nhỏ chứa chất ma túy loại Heroine trị giá 500.000 đồng tại tổ dân phố Q, thị trấn T, huyện T, mục đích bị cáo mua ma túy để sử dụng. Sau khi mua được bị cáo cất giấu trong người và trên đường về thì bị Công an huyện phát hiện bắt quả tang.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã cố ý mua 1,23 gam heroine để cất giấu trái phép, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng người, đúng tội. [2] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về toàn bộ hành vi phạm tội của mình nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên về áp dụng tình tiết giảm nhẹ này.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điều 52 của Bộ luật hình sự.
Hội đồng xét xử xét thấy, Bị cáo là người nghiện chất ma túy, mục đích mua ma túy là để sử dụng, năm 2014 Bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện T xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, Bị cáo đã chấp hành xong và đã đương nhiên được xóa án tích nhưng Bị cáo không sửa chữa lỗi lầm và đã tiếp tục phạm tội, do đó cần phải cách ly Bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục Bị cáo, đồng thời để cho Bị cáo cai nghiện chất ma túy và răn đe, giáo dục pháp luật cho những người khác. [3] Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo làm nông nghiệp, điều kiện kinh tế khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. [4] Về các vấn đề khác có liên quan:
Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho bị cáo, quá trình Điều tra và tại phiên tòa không xác định được họ tên, địa chỉ, nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét, xử lý. [5] Về vật chứng vụ án:
- Đối với số Heroine còn lại, 02 mảnh giấy nilon là vật cấm tàng trữ và vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 chiếc xe mô tô đã làm rõ là tài sản của Mùa A S, việc Bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội Sinh không biết, do đó Cơ quan điều tra đã trả lại cho Mùa A S là phù hợp. [6] Về án phí: Bị cáo là dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên cần miễn toàn bộ án phí cho bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. [7] Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Mùa Vảng P phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 2. Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự,
Xử phạt bị cáo Mùa Vảng P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Khấu trừ cho Bị cáo 03 (ba) ngày tạm giữ, Bị cáo còn phải chấp hành 01 (một) năm 05 (năm) tháng 27 (hai mươi bảy) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày Bị cáo bị bắt đi chấp hành án. 3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: Số Heroine còn lại 1,0758 gam, 02 mảnh giấy nilon và 01 phong bì cũ.
Số vật chứng trên cơ quan Thi hành án dân sự huyện T đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện T. 4. Về án phí:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án:
Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. 5. Kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 17/11/2021).
| Nơi nhận: - VKSND huyện T; - VKSND tỉnh Điện Biên - Bộ phận hồ sơ NV- CA huyện T - Cơ quan THAHS huyện, tỉnh; - TAND tỉnh Điện Biên; - Sở Tư Pháp tỉnh Điện Biên; - THADS huyện T; - Bị cáo; Người có QLNVLQ; - Lưu HSVA, HSTHA. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trương Anh Tuấn |