- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Xuân V - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ (điều 305 Luật sửa đổi, bổ sun…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lƣơng Xuân V phạm tội “Chế tạo, tàng trữ trái phép vật liệu nổ”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2021/HS-ST Ngày 19-01-2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA - TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lương Thị Diện
2. Ông Phạm Văn Nhất
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Tiến, Thư ký - Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quan Hóa tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Dụ - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 01 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 44/2020/TLST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2020/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2020/HSST-QĐ ngày 29/12/2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lƣơng Xuân V - sinh năm 1962; Tên gọi khác: Lương Văn V.
Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Khu Khó, thị trấn Hồi Xuân, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Trồng trọt; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Chức vụ (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Đảng viên; Trình độ học vấn: 7/10; Con ông: Lương Xuân B, đã chết; Con bà: Hà Thị T, sinh năm 1930; Vợ là Cao Thị B, sinh năm 1960; Có 02 con, lớn nhất sinh năm 1982, nhỏ nhất sinh năm 1986. Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo được tại ngoại theo “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú” số 24/2020/LC-TA ngày 20/11/2020 của Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 08h45 phút, ngày 01/7/2020, tại khu vực khu Ban, thị trấn Hồi Xuân, huyện Quan Hóa. Tổ công tác Công an thị trấn Hồi Xuân phối hợp với Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện Quan Hóa phát hiện 02 thanh niên đi xe máy có biểu hiện nghi vấn, nên đã tiến hành kiểm tra, phát hiện trong túi quần bên phải của 01 thanh niên có 01 túi nilon, bên trong chứa các viên kim loại nhỏ, người này khai là Cao Tuấn A, sinh năm 2000, trú tại khu 3, thị trấn Hồi Xuân, huyện Quan Hóa. Khi phát hiện thu giữ thì Cao Tuấn A khai nhận đây là đạn chì của súng tự chế vừa mua của Lương Xuân V, sinh năm 1962, trú tại khu Khó, thị trấn Hồi Xuân, huyện Quan Hóa. Khi tiếp nhận được tin báo, cùng ngày thì Cơ quan CSĐT Công an huyện Quan Hóa đã tiến hành khám xét khẩn chấp chỗ ở của Lương Xuân V, đã phát hiện thu giữ, niêm phong một số đồ vật nghi là vật liệu nổ và một số đồ vật liên quan, gồm: 01 gói nilon màu xanh da trời bên trong chứa chất bột màu đen nghi là vật liệu nổ, niêm phong ký hiệu M1; 01 gói nilon màu đen bên trong chứa chất bột màu vàng nghi là vật liệu nổ, niêm phong ký hiệu M2; 01 gói nilon màu đen bên trong chứa chất bột màu trắng, nghi là vật liệu nổ, niêm phong ký hiệu M2; 16 vỉ giấy, bên trong mỗi vỉ chứa 70 viên nén và 05 vỉ giấy, mỗi vỉ có 75 viên nén (tổng cộng 21 vỉ giấy, có tổng cộng = 1.495 viên) nghi là vật liệu nổ, niêm phong ký hiệu M3; 05 gói nilon màu xanh được lồng vào nhau bên trong chứa các viên kim loại nhỏ hình cầu màu đen và 01 gói nilon màu hồng bên trong chứa các viên kim loại nhỏ màu bạc đều nghi là đạn của súng tự chế, niêm phong ký hiệu M4; 02 khẩu súng tự chế, niêm phong ký hiệu M5 và thu giữ một số đồ vật liên quan đến chế tạo súng, chế tạo vật liệu nổ.
Mở rộng điều tra vụ án, ngày 03/7/2020, Công an huyện Quan Hóa đã tiến hành thu giữ tại nhà ông Hà Văn H, sinh năm 1967, trú tại khu Khó, thị trấn Hồi Xuân, huyện Quan Hóa 02 khẩu súng tự chế (ông Hà Văn H và con trai Hà Văn L khai nhận, súng kíp là do cha ông để lại, súng hơi là do L tự chế tạo); Ngoài ra, còn thu giữ thêm một số đồ vật liên quan đến chế tạo súng, tài sản khác.
Tại bản kết luận giám định số 1919/PC09 ngày 16/7/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận:
- Chất bột màu đen của túi nilon màu xanh da trời, niêm phong ký hiệu M1 của vụ án trên gửi giám định có tổng khối lượng 2,68kg, là thuốc nổ đen- thuộc vật liệu nổ;
- Chất bột màu vàng của túi nilon màu đen, niêm phong ký hiệu M2 của vụ án trên gửi giám định có tổng khối lượng 0,8kg, là Lưu huỳnh;
- Chất bột màu trắng của túi nilon màu đen, niêm phong ký hiệu M2 của vụ án trên gửi giám định có tổng khối lượng là 01kg, là Kali Nitrat (KNO3) - là tiền chất thuốc nổ;
- 16 vỉ giấy, mỗi vỉ đều có 70 viên nén màu xám và 05 vỉ, mỗi vỉ đều có 75 viên nén màu xám, tổng cộng 1.495 viên nén màu xám đều là hạt nổ - thuộc vật liệu nổ.
Tại bản kết luận giám định số 1867/PC09 ngày 10/7/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận:
02 khẩu súng bằng kim loại màu xám, không có ký hiệu trong vụ việc thu giữ khi khám xét khẩn cấp nơi ở của Lương Xuân V gửi giám định, đều là súng tự chế kiểu súng hơi, không thuộc tính năng tương tự súng săn - không phải vũ khí quân dụng.
Tại bản kết luận giám định số 2161/PC09 ngày 11/8/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận:
132 viên kim loại hình cầu màu đen, có tổng khối lượng 0,28kg thu giữ của Cao Tuấn A gửi giám định, không phải vật liệu nổ và không phải vũ khí quân dụng, các viên kim loại này có thể được nhồi đóng trong đạn súng kíp hoặc trong đạn ghém (đạn ria) hoặc sử dụng cho một số loại súng hơi, súng nén hơi, súng nén lò xo..
Tại bản kết luận giám định số 1933/PC09 ngày 17/7/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận:
- 01 khẩu súng bằng kim loại màu đen, không có ký hiệu thu giữ của ông Hà Văn Hợp gửi giám định, là súng kíp, thuộc loại súng săn – không phải là vũ khí quân dụng;
- 01 khẩu súng bằng kim loại màu xám, có ký hiệu “7075T9” thu giữ của ông Hà Văn Hợp gửi giám định, là súng hơi, thuộc loại súng săn – không phải là vũ khí quân dụng.
Tại bản kết luận giám định số 2162/PC09 ngày 11/8/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận:
Các viên kim loại hình cầu màu đen và các viên kim loại hình cầu màu bạc, có tổng khối lượng 8,84kg thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lương Xuân V trong vụ việc trên gửi giám định, không phải vật liệu nổ và không phải vũ khi quân dụng, các viên kim loại này có thể được nhồi đóng trong đạn súng kíp hoặc trong đạn ghém (đạn ria) hoặc sử dụng cho một số loại súng hơi, súng nén hơi, súng nén lò xo..
Ngày 29/7/2020, Công an huyện huyện Quan Hóa đã chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc đến Cơ quan An ninh điều tra - Công an tỉnh Thanh Hóa để giải quyết theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra, Lương Xuân V khai nhận: Khoảng đầu tháng 3/2020, Lương Xuân V đã tìm hiểu cách chế tạo súng săn trên mạng xã hội (Internet). Sau khi tìm hiểu, Lương Xuân V đã sử dụng các ống kim loại làm các bộ phận cho súng (nòng súng, cò súng, bình hơi), sau đó Vượt đã mang sang nhà anh Hà Văn L ở khu Nghèo, thị trấn Hồi Xuân, huyện Quan Hóa (là thợ cơ khí) để hàn các bộ phận lại rồi mang về nhà. Lương Xuân V tự chế tạo thêm báng súng, sau đó lắp ghép các bộ phận lại, tạo thành 02 khẩu súng tự chế. Để có thuốc nổ dùng cho súng tự chế đi săn bắn, vào cuối tháng 3/2020, Vượt đã mua của một người đàn ông không quen biết đi thu mua sắt vụn đi qua nhà khoảng 0,8kg bột Lưu huỳnh với giá 40.000đ, khoảng hơn 01kg bột diêm sinh (Kali Nitrat) với giá 70.000đ và mua của một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ đi bán hàng rong đi qua nhà được 21 vỉ hạt nổ, mỗi vỉ có giá 12.000đ và khoảng 08kg đạn chì, 0,5kg bi xe đạp với giá 200.000đ/kg. Đến đầu tháng 4/2020, Lương Xuân V chặt cây xoan non, róc vỏ phơi khô để làm củi, khi củi xoan khô, Vượt mang đốt lấy than và tự đục một cái cối bằng gỗ xoan, sau đó lấy than cây xoan giã nát thành bột. Khoảng cuối tháng 4/2020, Lương Xuân V dùng bát con (bát ăn cơm) lấy khoảng 01 bát diêm sinh (Kali Nitrat), 01 bát bột Lưu huỳnh, 04 bát bột than củi xoan trộn đều với 01 bát nước, sau đó Vượt đổ tất cả ra mâm rồi phơi khô tạo thành thuốc nổ đen nhằm để nhồi vào nòng súng tự chế cùng các hạt chì dùng để săn bắn. V đã thử nhồi một ít thuốc nổ do mình tự chế tạo cùng các hạt chì, bi xe đạp vào súng tự chế để bắn thử nhưng không bắn được, nên V đã đổ tất cả số thuốc nổ mình đã chế tạo vào trong túi bóng, bỏ vào trong rương (hòm gỗ) cất giấu cùng với một số hạt nổ, đạn chì, viên bi ở gầm giường nhà mình. Sáng ngày 01/7/2020 thì có Cao Tuấn A đến hỏi mua thì Vượt đã bán cho Cao Tuấn A khoảng 0,5kg đạn chì với giá 100.000đ, khi Cao Tuấn A trên đường về bị bắt giữ, thì Lương Xuân V bị khám xét khẩn cấp nơi ở, bị thu giữ toàn bộ tang vật, đồ vật liên quan.
Tại bản Cáo trạng số 51/Ctr-VKS-P1 ngày 09/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Lương Xuân V về tội “Chế tạo, tàng trữ trái phép vật liệu nổ” quy định tại khoản 1 Điều 305 Bộ luật hình sự.
Ngày 09/11/2020 Viện kiểm sát tỉnh Thanh Hóa đã Quyết định phân công cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Quan Hóa thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử đối với vụ án Lương Xuân V.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quan Hóa tranh luận và luận tội: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố Bị cáo theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Bị cáo Lương Xuân V phạm tội “Chế tạo, tàng trữ trái phép vật liệu nổ”.
Áp dụng: Điều 65; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 305 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Lương Xuân V từ 24 đến 30 tháng tù, cho hưởng án treo, thời hạn thử thách theo quy định của pháp luật, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, vì bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo.
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số thuốc nổ, hạt nổ, bột lưu huỳnh và tiền chất thuốc nổ đã thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định, đây là vật chứng vụ án, là chất Nhà nước cấm lưu hành. Hiện đang được bảo quản tại Công ty Thương mại Minh Hương.
Đối với: Các đồ vật, dụng cụ, công cụ thu giữ của Lương Xuân V, Cao Tuấn A và của ông Hà Văn H, đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với: 02 khẩu súng thu giữ của Lương Xuân V và 02 khẩu súng thu giữ tịa nhà ông Hà Văn H, đề nghị giao cho Công an huyện Quan Hóa xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo, nên đề nghị án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo xác nhận trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo không bị Cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng biện pháp ép cung, bức cung hay nhục hình và do bản thân, gia đình làm nghề trồng trọt, chim sóc hay phá hoa màu, nên đã tự chế súng và thuốc nổ để làm đạn bắn chim, thú để bảo vệ hoa màu, mùa màng, ngoài ra không có mục đích nào khác. Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã nêu là đúng, không khai báo thêm tình tiết mới.
Tại phiên tòa Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận với đại diện VKS.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi HĐXX vào phòng nghị án: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị HĐXX xem xét, cân nhắc cho bị cáo được hưởng chính sách khoan hồng của pháp luật, xử phạt bị cáo ở mức hình phạt thấp nhất và cho bị cáo xin được hưởng án treo, bị cáo hứa sẽ không vi phạm pháp luật, để bị cáo có cơ hội sữa chữa lỗi lầm của bản thân.
Căn cứ vào các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhân định như sau:
Về tố tụng: Quá trình điều tra vụ án cơ quan điều tra, cơ quan Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa vắng mặt người làm chứng Cao Tuấn A, Nguyễn Mạnh H không có lý do, khi đã được được triệu hợp lệ 02 lần. Căn cứ điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, HĐXX quyết định xét xử vắng mặt người làm chứng.
Về tội danh: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án; Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, lời luận tội của Kiểm sát viên, kết luận giám định và kết quả tranh luận tại phiên tòa, thể hiện: Bị cáo đã lên mạng xã hội (Internet) học cách chế tạo thuốc nổ và chế tạo súng, nên bị cáo đã mua bột Lưu huỳnh, bột Diêm sinh, Hạt nổ sau đó bị cáo chặt cây xoan của gia đình phơi khô, đốt lấy than, giã nhỏ, thêm nước và trộn đều với nhau, phơi khô để tạo thành thuốc nổ đen dùng cho súng tự chế, mục đích bắn chim, thú bảo vệ hoa màu của gia đình. Bị cáo bắn thử không được nên bị cáo đã bỏ dồn vào túi nilon và cất giấu vào rương (Hòm gỗ) bỏ vào gầm giường gia đình. Ngày 01/7/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra khám xét nơi ở của bị cáo đã thu giữ, qua giám định gồm: 2,68kg thuốc nổ đen – thuộc vật liệu nổ; 1.495 viên hạt nổ - thuộc vật liệu nổ; 0,8kg bột Lưu huỳnh; 01kg tiền chất thuốc nổ Kali Nitrat là tiền chất thuốc nổ và thu giữ một số dụng cụ, đồ vật liên quan đến việc chế tạo thuốc nổ của bị cáo. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp về thời gian, không gian, địa điểm và hiện trường nơi xảy ra vụ án, phù hợp với biên bản khám xét, thu giữ, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án và đã được tranh tụng tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để khẳng định bị cáo Lương Xuân V đã phạm tội “Chế tạo, tàng trữ trái phép vật liệu nổ” được quy định tại khoản 1 điều 305 Bộ luật hình sự, đúng như tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố, quan điểm luận tội của Kiểm sát viên và lời khai nhận tội của bị cáo.
Xét tính chất, mức độ của vụ án: Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nên phải nhận thức và biết được thuốc nổ, hạt nổ, tiền chất thuốc nổ là mặt hàng được nhà nước quản lý, nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ con người và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, nên mọi hành vi chế tạo, cất giữ, sử dụng liên quan đến vật liệu nổ đều trái với quy định của pháp luật, đều bị pháp luật nghiêm cấm và bị coi là tội phạm, nhưng do nhận thức và hiểu biết pháp luật hạn chế, nên bị cáo đã cố ý chế tạo, tàng trữ, sử dụng trái phép vật liệu nổ để nhằm mục đích săn bắn chim muông, thú bảo vệ hoa màu, mùa màng của bị cáo là vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến an toàn công cộng và các quy định của Nhà nước về chế tạo, tàng trữ và quản lý các vật liệu nổ. Ngoài ra, còn có thể đe doạ đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của mọi người, ảnh hưởng đến trật tự trị an và an toàn xã hội tại địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần có một hình phạt tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện để nhằm đấu tranh, ngăn ngừa và răn đe.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo thì thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu; là người dân tộc thiểu số, từ nhỏ sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biết khó khăn; mục đích bị cáo chế tạo, tàng trữ vật liệu nổ cũng chỉ nhằm để bảo vệ sản phẩm nông nghiệp của gia đình, lấy nguồn lương thực nuôi sống gia đình; không nhằm mục đích tư lợi nào khác, đồng thời bị cáo được chính quyền, đoàn thể xác nhận trong quá trình sinh sống tại địa phương luôn chấp hành, gương mẫu các đường lối chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nội quy, hương hước, có nhiều đóng góp cho thôn, bản, có nhân thân tốt, chưa vi phạm pháp luật lần nào, có nơi cư trú rõ ràng, ổn định, tuổi đã cao, bệnh tật, gia đình thuộc diện hộ cận nghèo. Tại phiên tòa vị đại diện viện kiểm sát luận tội đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo quy định tại khoản 2 điều 51 BLHS. Vì vậy HĐXX cho bị cáo hưởng tình tiết giản nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Về hình phạt chính: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; Nên HĐXX sẽ lên cho bị cáo một hình phạt tù có thời hạn, nhưng xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, phạm tội lần đầu, nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, ổn định, nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội, cho hưởng án treo theo Điều 65 BLHS, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục, vẫn đủ sức răn đe, phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm.
Về hình phạt bổ sung: Gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo, tuổi đã cao, thường xuyên ốm đau, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 2,68kg thuốc nổ đen – thuộc vật liệu nổ (Còn lại sau giám định là 2,38kg); 1.495 hạt nổ - thuộc vật liệu nổ (Còn lại sau giám định là 1.350 hạt nổ); 0,8kg bột lưu huỳnh (Còn lại sau giám định là 0,7kg); 01kg (Còn lại sau giám định là 0,9kg) tiền chất thuốc nổ Kali Nitrat, đây là những vật chứng của vụ án. Toàn bộ số vật chứng này hiện đang được bảo quản tại Công ty Minh Hương. Đây là vật liệu kinh doanh, sử dụng có điều kiện. Do đó cần phải căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS; Điều 68 và Điều 70 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017; Nghị định số 79/2018/NĐ-CP ngày 16/5/2018 của Chính phủ về việc: “Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ”. Tịch thu giao cho Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Thanh Hóa xử lý theo quy định của pháp luật.
- Đối với 04 khẩu súng tự chế (02 khẩu súng thu của Lương Xuân V và 02 khẩu súng thu tại nhà Hà Văn H khi mở rộng điều tra), đây không phải là vật chứng của vụ án, nhưng là vật cấm lưu hành, sử dụng khi chưa được cấp phép, nên giao cho Cơ quan Công an huyện Quan Hóa xử lý theo quy định của pháp luật.
- Đối với các đồ vật, gồm:
+ Thu giữ của Lương Xuân V: 05 túi nilon được lồng vào nhau chứa các viên kim loại nhỏ, hình cầu màu đen nghi là đạn của súng tự chế và 01 túi nilon màu hồng bên trong chứa các viên kim loại nhỏ hình cầu màu bạc nghi là đạn của súng tự chế; 09 đồng hồ đo áp suất khí nén; 01 bộ cò súng và búa đập bằng kim loại màu đen; 01 bơm khí bằng tay, phần thân bằng kim loại, hình trụ tròn, tổng chiều dài 60cm, phần thân bơm có đường tiết diện 2,5cm, phần tay cầm bơm dài 26cm; 01 máy khoan điện cầm tay, màu đỏ, nhãn hiệu KENTOTOOL, máy đã qua sử dụng, không có mũi khoan; 01 máy cắt kim loại chạy điện cầm tay, có phần thân màu đỏ đen, nhãn hiệu SENCAN, có gắn lưỡi cắt, máy đã qua sử dụng; 03 thanh kim loại rỗng, tiết diện đường tròn, trong đó 02 thanh kim loại có chiều dài 1,37m, đường kính tiết diện 1,5cm và 01 thanh kim loại dài 0,75cm, đường kính tiết diện 1,2cm. Đây là những đồ vật Lương Xuân V dùng để làm súng tự chế, nên tịch thu giao cho Công an huyện Quan Hóa xử lý theo quy định.
+ Thu giữ của Cao Tuấn A: 132 viên kim loại nhỏ, hình tròn, loại dùng để làm đạn của súng tự chế. Tịch thu giao cho Công an huyện Quan Hóa xử lý theo quy định của pháp luật.
+ Thu giữ khi điều tra mở rộng tại nhà Hà Văn H: 04 ống kim loại màu đen đều có đường kính mặt cắt là 1,5cm, chiều dài lần lượt là 77cm, 544cm, 42cm, 35cm; 01 hộp nhựa hình chữ nhật, phần cắt có dòng chữ “Đèn đeo đầu sạc điện bóng LED”, bên trong chứa các viên đạn kim loại nhỏ không rõ hình, màu bạc; 01 bộ mâm khuôn đúc kim loại màu đen; 01 cuộn kim loại màu bạc; 03 miếng kim loại màu bạc không rõ hình; 01 van nén đã cũ. Đây không phải là vật chứng, nhưng là những dụng cụ của Hà Văn L dùng để chế tạo súng tự chế, nên tịch thu, giao cho Công an huyện Quan Hóa xử lý theo quy định của pháp luật.
+ Đối với: 01 ống nhòm bằng nhựa, màu đen dài 15cm; 01 máy cắt điện loại máy cầm tay, phần thân màu đỏ có gắn lưỡi cắt; 01 máy hàn điện nhãn hiệu DUBA; 01 máy cắt kim loại nhãn hiệu SUMIKURA, cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Thanh Hóa đã trả lại cho Hà Văn L1. Nên HĐXX không xét.
Về biện pháp tư pháp: Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa đối với Lương Xuân V sẽ hết hiệu lực khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Về án phí: Bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo và có đơn xin miễn án phí, nên HĐXX miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án; Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định tại các Điều 331, điều 332, điều 333, điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các nhận định khác:
- Đối với anh Hà Văn L1, sinh năm 1993. Trú tại: Khu Nghèo, thị trấn Hồi Xuân, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Là người được Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Thanh Hóa trả lại một số đồ vật khi điều tra mở rộng. Nhưng anh Hà Văn L1 không liên quan đến hành vi phạm tội của Lương Xuân V, nên không tham gia với tư cách là “Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” trong vụ án.
- Quá trình điều tra đã xác định: Lương Xuân V, Hà Văn L chưa bị xử phạt hành chính về hành vi chế tạo, tàng trữ trái phép súng săn, vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự như súng săn hoặc đã bị bị kết về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Do vậy, chưa đủ yếu tố để xử lý hình sự về tội “Chế tạo, tàng trữ trái phép súng săn, các loại vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự như súng săn” quy định tại điều 360 BLHS, nên HĐXX sẽ kiến nghị cơ quan chức năng xử lý hành chính đối với Lương Xuân V và Hà Văn L.
- Đối với 02 người đàn ông đã bán bột Lưu huỳnh, bột Kali Nitrat và các hạt nổ cho Lương Xuân V, Cơ quan điều tra không có thông tin cụ thể xác minh làm rõ để xử lý ở vụ án này.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 điều 305; Điều 65; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Lƣơng Xuân V phạm tội “Chế tạo, tàng trữ trái phép vật liệu nổ”.
Hình phạt: Xử phạt Bị cáo Lƣơng Xuân V 26 (Hai mươi sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 52 (Năm mươi hai) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Lương Xuân V cho Ủy ban nhân dân thị trấn Hồi Xuân, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Lương Xuân V thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 69 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Biện pháp tư pháp: Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa đối với Lương Xuân V sẽ hết hiệu lực khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Vật chứng: Áp dụng điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 68 và Điều 70 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017 và Nghị định số 79/2018/NĐ-CP ngày 16/5/2018 của Chính phủ về việc “Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ”.
Tịch thu giao cho Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Thanh Hóa xử lý theo quy định của pháp luật đối với 0,7 kg bột Lưu huỳnh và 0,9kg bột Kali Nitrat (còn lại sau giám định) được cho vào 01 hộp caton màu trắng, bên ngoài được bọc giấy màu trắng dán kín, niêm phong bởi chữ viết, chữ ký và họ tên: Hoàng Tiến Hà, Ngân Văn Dũng và các hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, có ký hiệu M2.
Tịch thu giao cho Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Thanh Hóa xử lý theo quy định của pháp luật đối với: 2.38 kg thuốc nổ đen được niêm phong trong một hộp giấy caton màu trắng xanh, bên ngoài được bọc giấy màu trắng dán kín, niêm phong bởi chữ ký và họ tên của Hoàng Tiến Hà, Ngân Văn Dũng và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung “Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa” (có ký hiệu M1) và 1.350 viên hạt nổ được niêm phong trong hộp giấy catton màu xám và dán kín, niêm phong bởi chữ ký và họ tên của Hoàng Tiến Hà, Ngân Văn Dũng và hình dấu tròn đỏ có nội dung “Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa” (có ký hiệu M3).
Vật chứng trên hiện đang được bảo quản tại kho của Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Thương mại Minh Hương, địa chỉ: 109, phố Cao Sơn, phường An Hoạch, thành phố Thanh Hóa, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/9/2020 và ngày 18/8/2020 giữa Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Thanh Hóa và Công ty Minh Hương).
Giao cho Công an huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử lý theo quy định của pháp luật, gồm:
- 04 khẩu súng tự chế (02 khẩu súng thu của Lương Xuân V và 02 khẩu súng thu tại nhà Hà Văn H khi mở rộng điều tra);
- 05 túi nilon được lồng vào nhau chứa các viên kim loại nhỏ, hình cầu màu đen nghi là đạn của súng tự chế và 01 túi nilon màu hồng bên trong chứa các viên kim loại nhỏ hình cầu màu bạc nghi là đạn của súng tự chế; 09 đồng hồ đo áp suất khí nén; 01 bộ cò súng và bua đập bằng kim loại màu đen; 01 bơm khí bằng tay, phần thân bằng kim loại, hình trụ tròn, tổng chiều dài 60cm, phần thân bơm có đường tiết diện 2,5cm, phần tay cầm bơm dài 26cm; 01 máy khoan điện cầm tay, màu đỏ, nhãn hiệu KENTOTOOL, máy đã qua sử dụng, không có mũi khoan; 01 máy cắt kim loại chạy điện cầm tay, có phần thân màu đỏ đen,nhãn hiệu SENCAN, có gắn lưỡi cắt, máy đã qua sử dụng; 03 thanh kim loại rỗng, tiết diện đường tròn, trong đó 02 thanh kim loại có chiều dài 1,37m, đường kính tiết diện 1,5cm và 01 thanh kim loại dài 0,75cm, đường kính tiết diện 1,2cm, thu giữ của Lương Xuân V (Đây là đồ vật để chế tạo súng);
- 04 ống kim loại màu đen đều có đường kính mặt cắt là 1,5cm, chiều dài lần lượt là 77cm, 544cm, 42cm, 35cm; 01 hộp nhựa hình chữ nhật, phần cắt có dòng chữ “Đèn đeo đầu sạc điện bóng LED”, bên trong chứa các viên đạn kim loại nhỏ không rõ hình, màu bạc; 01 bộ mâm khuôn đúc kim loại màu đen; 01 cuộn kim loại màu bạc; 03 miếng kim loại màu bạc không rõ hình; 01 van nén đã cũ, thu giữ khi điều tra mở rộng tại nhà Hà Văn H (Đây là đồ vật để chế tạo súng);
- 132 viên kim loại nhỏ, hình tròn, loại dùng để làm đạn của súng tự chế, thu giữ của Cao Tuấn A.
Các đồ vật trên hiện đang được bảo quản tại Công an huyện Quan Hóa, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/10/2020 giữa Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Thanh Hóa và Công an huyện Quan Hóa).
Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ, khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; Tuyên: Miễn tiền án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lương Xuân Vượt.
Kháng cáo, Kháng nghị: Căn cứ điều 331, điều 332, điều 333 và điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự. Án xử công khai, Có mặt bị cáo; Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Kiến nghị: Đề nghị Công an huyện Quan Hóa ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi “Chế tạo, tàng trữ trái phép súng săn, các loại vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự như súng săn” đối với:
- Lương Xuân Vt, sinh năm 1962. Trú tại: Khu Khó, thị trấn Hồi Xuân, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa;
- Hà Văn L, sinh năm 1991. Trú tại: Khu Nghèo, thị trấn Hồi Xuân, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV-THA, TAND tỉnh Thanh Hóa; - VKS nhân dân tỉnh Thanh Hóa; - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa; - Cơ quan An ninh điều tra, CA tỉnh Thanh Hóa - VKS nhân dân huyện Quan Hóa; - Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Thanh Hóa; - Cơ quan CSĐT- Công an H. Quan Hóa; - Phòng HSNV – Công an tỉnh Thanh Hóa; - UBKT huyện ủy Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa; - Chi cục THADS huyện Quan Hóa; - UBND thị trấn Hồi Xuân, huyện Quan Hóa; - Bị cáo Lương Xuân V; - Công ty CPĐTXD &TM Minh Hương; - Hồ sơ Thi hành án Hình sự; - Lưu Hồ sơ vụ án. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tiến Dũng |