vanban.org

Bản án 02/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương Tuyên án 01/02/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lý Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lý Minh T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù đư c tính t ngày 14 tháng 7 năm 2020. Về tang vật của vụ án: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Minh T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lý Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÀU BÀNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:02/2021/HS-ST
Ngày 06-01-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Khoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Long Giang;

Ông Dương T Công.

- Thư ký phiên tòa: Bà Tr n Thị Diễm Trang, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vui - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 58/2020/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2020/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2020 và Quyết định ho n phiên tòa số 29/2020/HSST-QĐ ngày 17 tháng 12 năm 2020, đối với bị cáo.

Lý Minh T, sinh năm 1993 tại S c Trăng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 278, , kh m , phường 7, T phố S, tỉnh So; tạm trú: p 3, x T, huyện B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học v n: 6/12; dân tộc: Khmer; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý K và bà Tr n Thị Y c v là Đ Thị Ngọc Á và 01 con sinh năm 2017; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: ngày 05 tháng 4 năm 2013, bị Tòa án nhân dân thành phố S c Trăng, tỉnh S c Trăng xử phạt 01 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà c ”. Ngày 03 tháng 6 năm 2013, bị Tòa án nhân dân thành phố S c Trăng, tỉnh S c Trăng xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà c ”; bị bắt tạm giam t ngày 14 tháng 7 năm 2020 đến nay, c mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Nguyễn Đình Chiến, sinh năm 1968; nơi cư trú: p Ô, x C, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

Ông Nguyễn Đình Thi, sinh năm 1999; nơi cư trú: p Ô, x C, huyện B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu c trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c t m tắt như sau:

Năm 2019, T đến x Tr Văn Thố, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương làm công nhân. Tại đây, T quen biết với Nguyễn Đình T do cùng là người nghiện ma túy. Khoảng 01 giờ 45 phút ngày 14 tháng 7 năm 2020 tại đường DT750 thuộc p 3, x Tr Văn Thố, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, t tu n tra v trang Công an huyện Bàu Bàng phối h p với Công an x Tr Văn Thố kiểm tra hành chính Lý Minh T đang điều khiển xe mô tô hiệu HONDA màu nâu đen biển số 61K1-194.01 phía sau chở Nguyễn Đình T. Lúc này, lực lư ng Công an phát hiện trong túi áo khoác phía trong bên trái của Lý Minh T đang mặc c 01 nỏ tự chế bằng thủy tinh, 01 nắp chai c chữ TEA c đục 02 l và 01 ống hút nhựa, trong túi áo khoác phía trong bên phải của Lý Minh T đang mặc c 02 đoạn nylon hàn kín chứa ch t tinh thể màu trắng. Lý Minh T khai nhận ch t tinh thể màu trắng là ma túy đá nên lực lư ng Công an lập biên bản bắt người quả tang đối với Lý Minh T, thu giữ tang vật gồm: 02 đoạn nylon hàn kín chứa ch t tinh thể màu trắng, 01 nỏ tự chế bằng thủy tinh, 01 nắp chai c chữ TEA c đục 02 l và 01 ống hút nhựa, 01 xe mô tô hiệu HONDA màu nâu đen biển số 61K1-194.01.

Tại Cơ quan điều tra Công an huyện Bàu Bàng, Lý Minh T: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 11 tháng 7 năm 2020, T điều khiển xe môtô hiệu HONDA màu nâu đen biển số 61K1 - 194.01 chở T ngồi phía sau về nhà của T tại địa chỉ số 278, , kh m , phường , thành phố S, tỉnh S c Trăng. Đến ngày 12 tháng 7 năm 2020, T ở nhà T, còn T điều khiển xe mô tô hiệu HONDA màu nâu đen biển số 61 K1 - 194.01 đến thị tr n Đại Ng i, huyện Long Phú, tỉnh S hỏi mua đư c 03 đoạn nylon hàn kín chứa ma túy đá với giá 900.000 đồng của người đàn ông tên Lê (không rõ lai lịch). Sau đ , T c t gi u 03 đoạn nylon hàn kín chứa ma túy đá vào trong túi áo khoác phía trong bên phải rồi điều khiển xe mô tô về nhà của mình.

Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 13 tháng 7 năm 2020, T điều khiển xe mô tô chở T về p 3, x Tr Văn Thố, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương. Trên đường đi đến tỉnh Vĩnh Long, Thành d ng xe rồi cùng với T đi vào quán cà phê (không rõ tên, địa chỉ) để nghỉ. Lúc này, T l y 01 đoạn nylon hàn kín chứa ma túy đá sử dụng cùng với Thi, 02 đoạn nylon hàn kín chứa ma túy đá còn lại T c t vào trong túi áo khoác phía trong bên phải của T đang mặc. Sau đ , T điều khiển xe chở T về x Tr Văn Thố, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương. Đến khoảng 01 giờ 45 phút ngày 14 tháng 7 năm 2020, khi T chở Th đến đường DT750 thuộc p 3, x Tr Văn Thố, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương thì bị lực lư ng Công an kiểm tra phát hiện, bắt quả tang.

Theo Kết luận giám định số 445/MT-PC09 ngày 17 tháng 7 năm 2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: M u ch t tinh thể màu trắng, gửi giám định là ma tuý, c khối lư ng: 0,2135 gam, loại Methamphetamine quy định tại Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2018 quy định các danh Mục ch t ma túy và tiền ch t của Chính phủ. M u vật sau giám định đư c niêm phong, khối lư ng: 0,1869 gam.

Quá trình điều tra, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không c ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.

Đối với hành vi của Nguyễn Đình Th không biết T tàng trữ trái phép ch t ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý.

Tại bản Cáo trạng số: 57/CTVKSBB ngày 04 tháng 11 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lý Minh T về tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đ i b sung năm 2017. Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh như cáo trạng đ truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đ i b sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lý Minh T với mức án t 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.

Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đ i b sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư đư c niêm phong ghi số 445/PC09 c hình d u đỏ của Phòng K thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương bên trong chứa 0,1869 gam Methamphetamine, 01 nỏ tự chế bằng thủy tinh, 01 nắp chai c chữ TEA c đục 02 l , 01 ống hút nhựa.

Tại phiên tòa bị cáo thống nh t hành vi phạm tội không c ý kiến tranh luận.

Người c quyền l i, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Đình C và Nguyễn Đình Th không c mặt nên không ghi nhận ý kiến tranh luận.

Bị cáo n i lời sau cùng: Hành vi của bị cáo là sai trái, vi phạm pháp luật. Bị cáo r t ăn năn và hối hận, bị cáo xin đư c hưởng sự khoan hồng của Nhà nước và pháp luật để bị cáo c cơ hội sớm đư c trở về hòa nhập với x hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người c quyền l i, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không ai c ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đ , các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đ thực hiện đều h p pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Lý Minh T đ thành khẩn khai nhận hành vi tàng trữ trái phép ch t ma túy như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù h p với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, các tài liệu, chứng cứ thu giữ trong vụ án, lời khai của người c quyền l i, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Hội đồng xét xử c căn cứ kết luận: ngày 14 tháng 7 năm 2020, tại x Tr Văn Thố, huyện Bàu Bàng, bị cáo c hành vi đ tàng trữ trong túi áo 02 đoạn ny lon hàn kín chứa Methamphetamine c trọng lư ng 0,2135gam mục đích là để sử dụng tại x Tr Văn Thố, huyện Bàu Bàng. Do đ , c đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lý Minh H phạm tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đ i b sung năm 2017 như kết luận của Kiểm sát viên là c căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét th y, bị cáo đ đủ tu i chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo Hu nh là nguy hiểm cho x hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ch t ma tuý. Đồng thời, xâm phạm nghiêm trọng đến trật tự an toàn x hội, gây hệ quả x u cho con người, là nguyên nhân gây ra các căn bệnh x hội và các loại tội phạm khác. Về nhận thức, bị cáo biết đư c hành vi tàng trữ trái phép ch t ma túy là trái quy định của pháp luật nhưng để thỏa m n cơn nghiện cho bản thân, bị cáo v n cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, c n áp dụng hình phạt nghiêm khắc, buộc bị cáo phải ch p hành hình phạt tù trong một thời gian nh t định để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ng a chung cho toàn x hội.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như sau:

[4.1 Tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo là người dân tộc Khmer nên đư c hưởng tình tiết giảm nh theo điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đ i b sung năm 2017.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không c .

Về nhân thân: Bị Tòa án nhân dân thành phố S c Trăng, tỉnh S c Trăng xử phạt 01 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà c ” 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà c ”.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt đối với bị cáo tại phiên tòa là phù h p nên Hội đồng xét xử ch p nhận.

Về vật chứng: Đối với xe mô tô hiệu HONDA màu nâu đen biển số 61 K1-194.01 do ông Nguyễn Đình C là cha của Nguyễn Đình Th đứng tên chủ sở hữu. Ngày 11 tháng 7 năm 2020, ông Chiến cho Th mư n để sử dụng không biết Thi giao cho bị cáo sử dụng vào việc đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bàu Bàng ra Quyết định xử lý vật chứng giao trả 01 xe mô tô cho ông Nguyễn Đình C là phù h p quy định của pháp luật. Đối với m u vật hoàn lại sau giám định là 01 bì thư đư c niêm phong ghi số 445/PC09 c hình d u đỏ của Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương bên trong chứa 0,1869 gam Methamphetamine, 01 nỏ tự chế bằng thủy tinh, 01 nắp chai c chữ TEA c đục 02 l , 01 ống hút nhựa là công cụ, phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội không c giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đ i b sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đ i b sung năm 2017;

Căn cứ các Điều 99, 106, 292, 293 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Tuyên bố bị cáo Lý Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lý Minh T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù đư c tính t ngày 14 tháng 7 năm 2020.

2. Về tang vật của vụ án:

Tịch thu tiêu hủy: M u vật hoàn lại sau giám định là 01 bì thư đư c niêm phong ghi số 445/PC09 c hình d u đỏ của Phòng K thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương bên trong chứa 0,1869 gam methamphetamine, 01 nỏ tự chế bằng thủy tinh, 01 nắp chai c chữ TEA c đục 02 l và 01 ống hút nhựa.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04 tháng 11 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương).

3. Về án phí: Bị cáo Lý Minh T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo c mặt đư c quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể t ngày tuyên án.

Người c quyền l i, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt c quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể t ngày nhận đư c bản án hoặc bản án đư c niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ