vanban.org

Bản án 02/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Thanh H được ly hôn với anh Nguyễn Thanh B. Về nuôi con chung: Giao con chung cháu Nguyễn Hà Anh Thư, sinh ngày 27-11-2012 cho anh Nguyễn Thanh B trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời, anh B không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÔN ĐẢO

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Bản án số: 02/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 14-5-2021
V/v Ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thanh H
và anh Nguyễn Thanh B

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÔN ĐẢO, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Giáp.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Mỹ Tố Uyên;

2. Bà Nguyễn Thị Thu Thảo.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Côn Đảo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu: Bà Nguyễn Thị Huyền – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 14-5-2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 38/2020/TLST-HNGĐ ngày 08-12- 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 06-5-2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm: 1991;

Hộ khẩu thường trú: 204 ấp Phước Trinh, xã Tam Phước, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;

Nơi ở hiện nay: Khu dân cư số 6, huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh B, sinh năm 1976;

Hộ khẩu thường trú: Khu dân cư số 6, huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện, bản tư khai ngày 04-12-2020, đơn đề nghị xét xử vắng mặt, đơn xác nhận của UBND xã Tam Phước, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh Huyền trình bày:

Về hôn nhân: Chị H và anh Nguyễn Thanh B quen biết, tìm hiểu nhau từ năm 2011 đến cuối năm 2012 tổ chức đám cưới tại xã Tam Phước, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo phong tục tập quán tại địa phương, hôn nhân đều được sự đồng ý của hai gia đình nội ngoại, trên cơ sở tự nguyện không bị ai ép buộc; Chị H có đăng ký kết hôn với anh Nguyễn Thanh B tại UBND xã Tam Phước, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu vào ngày 12-11-2012 (Giấy đăng ký số 57, Quyển số 02/2012) và sống hòa thuận hạnh phúc, kết quả có một con chung. Trong quá trình sinh sống phát sinh mâu thuẫn bắt đầu từ năm 2015, nguyên nhân là về quan điểm, lối sống của hai vợ chồng quá khác biệt nhau, không thực sự hiểu và thông cảm cho nhau, chị H và anh B thường xuyên tranh cải to tiếng, được hai gia đình nội ngoại khuyên giải như không có kết quả. Đến cuối năm 2016 chị H và anh B quyết định sống ly thân cho đến nay, chị H về nhà cha mẹ để để ở, tại xã Tam Phước, huyện Long Điền, trong thời gian ly thân chị H và anh B vẫn liên lạc để có cơ hội hàn gắn tình cảm, hàn gắn rạn nứt trong hôn nhân nhưng cuộc hôn nhân này không cứu vãn được, chị H xác nhận hiện nay chị không còn tình cảm với anh B, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H xin được ly hôn với anh B.

Về nuôi con chung: Vợ, chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Hà Anh Thư, sinh ngày 27-11-2012, chị H yêu cầu anh B nuôi con chung, chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chia tài sản, nợ chung: Chị H tự thỏa thuận với anh B, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại bản tự khai đề ngày 10-12-2020 và trong quá trình xét xử, bị đơn anh Nguyễn Thanh Bình trình bày:

Về hôn nhân: Anh B thừa nhận về thời gian, điều kiện, hoàn cảnh kết hôn, mâu thuẫn, sống ly thân với chị H là đúng. Nay chị H xin ly hôn, anh B đồng ý.

Về nuôi con chung: Anh B đồng ý với đề nghị của chị H là yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh B được nuôi con chung là cháu Nguyễn Hà Anh Thư cho đến khi cháu Thư trưởng thành và không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh B, chị H tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về hôn nhân, về nuôi con chung, về tài sản chung, công nợ chung; đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; đã được xem xét tại tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Côn Đảo nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Thanh H vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, đơn xác nhận của UBND xã Tam Phước, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xác nhận chữ ký về sự vắng mặt của mình, anh Nguyễn Thanh B vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thẩm quyền: Xét yêu cầu của nguyên đơn, khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn nên đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Côn Đảo, quy định tại Điều 28, 35 và 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về hôn nhân:

- Chị Nguyễn Thị Thanh H có đăng ký kết hôn với anh Nguyễn Thanh B tại UBND xã Tam Phước, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu vào ngày 12-11-2012 (Giấy đăng ký số 57, Quyển số 02/2012), hôn nhân trên cơ sở tự nguyện nên hôn nhân của chị H và anh B là hôn nhân hợp pháp.

Sau một thời gian chung sống, chị H và anh B đã phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là về quan điểm, lối sống của hai vợ chồng quá khác biệt nhau, không thực sự hiểu và thông cảm cho nhau, chị H và anh B thường xuyên tranh cải to tiếng, được hai gia đình nội ngoại khuyên giải như không có kết quả. Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Đến cuối năm 2016 chị H và anh B quyết định sống ly thân cho đến nay, chị H về nhà cha mẹ để để ở. Nay chị H và anh B xác nhận tình cảm vợ, chồng không còn nên đều đồng ý thuận tình ly hôn. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Côn Đảo có căn cứ công nhận cho chị H, anh B được thuận tình ly hôn theo quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân & Gia đình là có cơ sở nên chấp nhận.

Về nuôi con chung: Xét sự thỏa thuận của chị H và anh B và xét thấy anh Bình có nghề nghiệp, thu nhập ổn định và theo nguyện vọng của cháu Thư muốn sống cùng anh B. Giao cháu Nguyễn Hà Anh Thư, sinh ngày 27-11-2012 cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng đảm bảo sự phát triển toàn diện của con theo quy định tại các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về yêu cầu cấp dưỡng; Tạm thời, anh B không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con nên không xét đến.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Chị H, anh B không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: chị H tự nguyện nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 19, 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Thanh H được ly hôn với anh Nguyễn Thanh B.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung cháu Nguyễn Hà Anh Thư, sinh ngày 27-11-2012 cho anh Nguyễn Thanh B trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời, anh B không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, anh B, chị H đều có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung. Chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì quyền lợi của con chung, cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình có quyền yêu cầu Toà án thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con hoặc yêu cầu việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị H, anh B không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí:

- Chị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số TU/2020/0007804 ngày 04-12-2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Côn Đảo. Chị H đã nộp đủ tiền án phí.

- Anh B không phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ