vanban.org

Bản án 02/2021/HN-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Hồng K được ly hôn với anh Lê Văn L.

2/ Về con chung: Tiếp tục giao 02 cháu Lê Nhựt H, sinh ngày 22/5/2003 và cháu Lê Nguyễn Trâm A, sinh ngày 13/6/2012 (theo nguyện vọng của 02 cháu) cho chị K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị K không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn nhưng khi cần thiết, chị K c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn Nguyễn Hồng K; Bị đơn Lê Văn L"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Hồng K được ly hôn với anh Lê Văn L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN MINH
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2021/HN - ST
Ngày: 12/01/2021
V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Cẩm Lình.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đoàn Thị Huệ và bà Hồ Thị Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Vũ Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Ý, Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 01 năm 2021 tại Tòa án nhân dân huyện An Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 331/2020/TLST - HNGĐ ngày 23/11/2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 168/2020/QĐXX - HN ngày 23/12/2020, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Hồng K, sinh năm: 1981. (Có mặt)

* Bị đơn: Anh Lê Văn L, sinh năm: 1982. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp 7 X, xã Đ H, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 05/11/2020 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Hồng K trình bày và yêu cầu như sau: Chị vaø anh Lê Văn L chung soáng vôùi nhau từ năm 2002. Trước khi chung sống thì anh chị có tìm hiểu nhau trước rồi cả hai tự nguyện tiến tới hôn nhân, anh chị được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán ở địa phương. Đồng thời, anh chị có thực hiện viêc đăng ký kết hôn và được UBND xã Đ H cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 07/10/2002.

Sau khi đám cưới, anh chị sinh sống tại ấp 7 X, xã Đ H cho đến tháng 10/2020 thì chị và anh L ly thân cho đến nay. Bản án HN - ST ngày 12/01/2021 (K - L)

Trong quá trình vợ chồng chung sống đến năm 2017 thì anh chị phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh L có tình cảm với người phụ khác bên ngoài, khi chị K phát hiện thì có cho anh L cơ hội để thay đổi nhưng đến nay anh L không từ bỏ được mặc dù cha mẹ của anh L khuyên ngăn rất nhiều lần anh L vẫn không nghe, anh L thường xuyên bỏ vợ con ở nhà, không quan tâm tới. Từ đó, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng và tình cảm giữa anh chị không thể hàn gắn được nữa.

Nay, chị xét thấy hôn nhân giữa chị và anh L không thể hàn gắn và cũng không thể kéo dài nên chị yêu cầu được ly hôn với anh L. Mặc dù anh L không đồng ý, chị vẫn cương quyết ly hôn.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung cháu Lê Nhựt H, (sinh ngày 22/5/2003) và cháu Lê Nguyễn Trâm A (sinh ngày 13/6/2012). Hiện nay 02 cháu đang chung sống cùng chị. Khi ly hôn, chị K yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con và không yêu cầu anh L cấp dưỡng.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên chị không yêu cầu giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án anh Lê Văn L trình bày: Anh L xác nhận, anh và chị K tiến đến hôn nhân là do được mai mối, sau đó cả hai tự nguyện đi đến hôn nhân và có thực hiện việc đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ H vào ngày 07/10/2002. Trong quá trình chung sống, vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm nhưng anh L không đồng ý ly hôn với chị K. Trường hợp, chị K cương quyết ly hôn thì anh L yêu cầu như sau:

- Về hôn nhân: Anh L đồng ý ly hôn với chị K.

- Về con chung: Tùy theo nguyện vọng của con, theo ai người đó nuôi dưỡng.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có tranh chấp nên không yêu cầu giải quyết.

* Tại phiên tòa:

- Chị K: Yêu cầu được ly hôn với anh L; yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con và không yêu cầu anh L cấp dưỡng; tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu giải quyết.

- Anh L: Vắng mặt.

- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đầy đủ, đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật tố tụng dân sự; Đối với các đương sự thì từ khi thụ lý vụ án đến nay các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định. Bản án HN - ST ngày 12/01/2021 (K - L)

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cho chị K được ly hôn với anh L; giao 02 con chung cho chị K tiếp tục nuôi dưỡng theo nguyện vọng của 02 cháu; án phí chị K chịu theo quy định.

.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (gọi tắt là HĐXX) nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Hồng K khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Lê Văn L là tranh chấp dân sự về hôn nhân và gia đình. Khi chị K khởi kiện được Tòa án thụ lý vụ án giải quyết thì anh L đang cư trú và sinh sống tại ấp 7 X, xã Đ H, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét thấy, anh L có đơn xin xét xử vắng mặt vào ngày 04/12/2020 nên HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt anh L và qua yêu cầu của các đương sự trong vụ án được xác định mối quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

Về quan hệ hôn nhân: Chị K và anh L chung sống với nhau từ năm 2002, có đăng ký kết hôn và được UBND xã Đ H cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 07/01/2002 theo đúng quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Xét yêu cầu của chị L về việc ly hôn với anh L, HĐXX xét thấy qua lời trình bày của chị K và anh L xác nhận, trong quá trình chung sống vợ chồng luôn bất đồng quan điểm và thường hay cự cãi không hàn gắn được nên anh chị đã ly thân từ tháng 10/2020 đến nay. Qua xác minh tại nơi cư trú, cho thấy trong thời gian sinh sống tại địa phương giữa anh chị có phát sinh mâu thuẫn do thường xuyên bất đồng quan điểm là đúng.

Do đó, HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật HN&GĐ năm 2014 chấp nhận yêu cầu của chị K và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, cho chị K được ly hôn với anh L.

Về quan hệ con chung: Chị K và anh L xác nhận, vợ chồng có 02 con chung là cháu Lê Nhựt H (sinh ngày 22/5/2003) và cháu Lê Nguyễn Trân A (sinh ngày 13/6/2012), hiện nay cháu đang chung sống cùng chị K. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, chị K yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 cháu H và Trâm A. HĐXX xét thấy, yêu cầu này của chị K phù hợp Bản án HN - ST ngày 12/01/2021 (K - L) với nguyện vọng của cháu H (theo nội dung đơn trình bày nguyện vọng ngày 23/11/2020) và cháu Trâm A (theo nội dung đơn trình bày nguyện vọng ngày 05/11/2020) nên HĐXX thống nhất giao 02 cháu cho chị K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục sau khi vợ chồng ly hôn.

Chị K không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Khi cần thiết, chị K có quyền yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình giải quyết, chị K và anh L xác nhận không có tranh chấp nên HĐXX không xem xét. Nhưng sau khi ly hôn, trường hợp có phát sinh nợ chung trong thời kỳ hôn nhân thì anh chị vẫn có nghĩa vụ liên đới.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị K phải chịu án phí ly hôn số tiền là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Hồng K được ly hôn với anh Lê Văn L.

2/ Về con chung: Tiếp tục giao 02 cháu Lê Nhựt H, sinh ngày 22/5/2003 và cháu Lê Nguyễn Trâm A, sinh ngày 13/6/2012 (theo nguyện vọng của 02 cháu) cho chị K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Chị K không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn nhưng khi cần thiết, chị K có quyền yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Hồng K chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị đã Bản án HN - ST ngày 12/01/2021 (K - L) nộp số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo lai thu 0006121 ngày 17/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang. Chị K đã nộp án phí xong.

4/ Quyền kháng cáo: Chị K có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 12/01/2021).

Riêng anh L vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ