vanban.org

Bản án 02/2021/DS-ST — Tranh chấp về thừa kế tài sản

TAND Q. Hồng Bàng, TP. Hải Phòng Tuyên án 29/04/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về chia tài sản thừa kế c a nguyên đơn (chị DTMT) đối v i bị đơn (anh DMT, tức: DMC).

Chị DTMT được quyền sử dụng tài sản là diện t ch đất 126m2 và được quyền sở hữu toàn bộ tài sản trên đất tại thửa đất số: K; địa chỉ: Số nhà M, phường N, quận O, Hải Phòng (nay là số nhà 2 ngõ 1, B, phường C, quận D, Hải Phòng theo iấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BP 415802 do y ban nh n d n quậ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "DTMT - DMT"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về chia tài sản thừa kế c a nguyên đơn (chị DTMT) đối v i bị đơn (anh DMT, tức: DMC).
  • Căn cứ chính? Điều 22 Bộ luật Tố tụng d n sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng d n sự; Điều 1 Bộ luật Tố tụng d n sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2021/DS-ST
Ngày 29-4-2021
V/v tranh chấp về thừa kế tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quang Kiên

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Phin;

Ông Nguyễn Văn Điển.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hồng Bàng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 10/2019/TLST-DS ngày 13-12-2019, về tranh chấp về thừa kế tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2021/QĐXXST-DS, ngày 25-3-2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2021/QĐST-DS, ngày 16-4-2021, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị DTMT; địa chỉ: Số nhà A, B, phường C, quận D, thành phố Hải Phòng; có mặt.

Bị đơn: Anh DMT (tức DMC ; địa chỉ: Số nhà 2 ngõ 1, B, phường C, quận D, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

Ng i c uy n i ngh a iên uan: Chị NLQ; địa chỉ: Số E đường F, phường G, quận H, thành phố Hải Phòng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung Đơn khởi kiện đề ngày 13-7-2019, bản tự khai đề ngày 13-12-2019; biên bản hòa giải ngày 17-3-2021 và tại phiên tòa, nguyên đơn (chị DTMT) trình bày:

Ông I (sinh năm 19 3 và bà J (sinh năm 19 3 là vợ chồng và sinh được bốn người con gồm: Anh DMT (tức DMC), sinh năm 1967; chị NLQ, sinh năm 1969; anh K, sinh năm 1972 (đã chết năm 2003, khi chết th anh K chưa có vợ con và chị DTMT, sinh năm 1978. Bà J có nhận một người làm m nuôi là cụ L, tr tại địa chỉ: Thôn M, xã N, huyện O, Hải Phòng (cụ L đã chết vào khoảng năm 1996 - 1997). Khi ông I và bà J còn sống có tạo lập được khối tài sản chung là: iện t ch đất 126m2 tại thửa đất số: K; địa chỉ: Số nhà M, phường N, quận O, Hải Phòng (nay là số nhà 2 ngõ 1 B, phường C, quận D, Hải Phòng theo iấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BP 1 02 do y ban nh n d n quận O cấp ngày 01-8-2013 mang tên ông I. Năm 1999, ông I và bà J đã x y dựng trên đất đó một căn nhà cấp (nhà một tầng diện t ch x y dựng khoảng 0 m2, tường x y gạch ba banh, lợp tôn xi măng để sinh hoạt cho gia đ nh.

Năm 2006, bà J chết, không để lại di ch c. Năm 2019, ông I chết. Khi còn sống, ông I đã lập di ch c để lại toàn bộ tài sản c a m nh trong khối tài sản chung v i bà J cho con gái là DTMT. i ch c c a ông I được lập bằng văn bản vào ngày 04-6-201 có sự chứng kiến c a các người làm chứng là chị P, sinh năm 199 ; ĐKNKTT tại địa chỉ: Tổ d n phố Q, phường R, quận S, Hải Phòng và chị T, sinh năm 199 ; ĐKNKTT và tr tại địa chỉ: Số nhà U, tổ d n phố C7, phường V, quận W, Hải Phòng. Ông X, sinh năm 1960; địa chỉ: Số nhà Y, đường Z, phường AA, quận H, Hải Phòng là Phó iám đốc c a Công ty Luật Trách nhiệm hữu hạn AB - Đoàn luật sư thành phố Hải Phòng, là người trực tiếp gi p ông I soạn thảo nội dung và thực hiện toàn bộ việc lập di ch c.

Sau khi ông I mất chị DTMT đã nhiều lần yêu cầu anh DMT phải thực hiện theo nội dung di ch c c a ông I nhưng anh DMT không đồng ý và mối quan hệ anh chị em trong gia đ nh ngày càng căng thẳng. Thực tế là chị DTMT và chị NLQ đã phải lập bàn thờ bố m tại nhà c a chị NLQ để thờ c ng v không thể sang nhà anh DMT được. Hiện nay, toàn bộ diện t ch đất và nhà nêu trên do con trai ông I là DMT đang trực tiếp quản lý, sử dụng. Còn iấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BP 1 02 do y ban nh n d n quận O cấp ngày 01-8-2013 mang tên ông I đối v i nhà và đất nêu trên th hiện tại đang do chị DTMT cất giữ.

Chị DTMT có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết chia di sản c a ông I và bà J và giao cho chị DTMT được sở hữu, sử dụng toàn bộ di sản c a ông I và bà J vì chị DTMT cho rằng phần mà chị DTMT được hưởng là l n hơn gấp nhiều lần so v i phần mà anh DMT sẽ được hưởng. Chị DTMT sẽ có trách nhiệm thanh toán phần giá trị di sản thừa kế cho anh DMT và chị NLQ bằng tiền mặt. Do anh DMT là con trai duy nhất còn lại và hoàn cảnh kinh tế có khó khăn nên chị DTMT rất thông cảm và tự nguyện hỗ trợ thêm cho anh DMT 100.000.000 đồng bao gồm các khoản: Công sức quản lý và duy tr di sản và chi ph di chuyển chỗ ở. Trường hợp sau này khi bản án có hiệu lực pháp luật, nếu anh DMT tự nguyện bàn giao nhà cho chị DTMT và không phải cưỡng chế thi hành án th khi đó chị DTMT sẽ tiếp tục hỗ trợ thêm cho anh DMT số tiền còn lại để tổng cộng anh DMT được nhận số tiền là 6 0.000.000 đồng.

Đối v i khoản tiền mà chị DTMT và chị NLQ đã phải vay mượn người khác để chi ph điều trị cho ông I trong suốt một năm nằm viện th chị DTMT sẽ có trách nhiệm trang trải toàn bộ và không có yêu cầu Tòa án phải giải quyết.

Đối v i bị đơn (anh DMT), sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án c a Tòa án nhưng bị đơn không thực hiện việc làm bản tự khai tr nh bày ý kiến c a m nh gửi đến Tòa án. Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 17-3-2021, anh DMT có mặt và tr nh bày ý kiến xác nhận toàn bộ các thông tin về di sản thừa kế, thời điểm mở thừa kế và hàng thừa kế c a ông I và bà J như nguyên đơn tr nh bày là đ ng. Anh DMT cũng xác nhận đang trực tiếp quản lý và sử dụng ngôi nhà và đất (tại địa chỉ: Số nhà 2 ngõ 1, B, phường C, quận D, Hải Phòng) là di sản thừa kế c a ông I và bà J để lại. Anh DMT cũng đã nhận được Thông báo về kết luận định giá tài sản và không có ý kiến g . Anh DMT xác định đ y là di sản c a bố m để lại nên anh DMT đề nghị để cho anh được hưởng riêng số tiền 1.000.000.000 đồng là tiền hương h a và anh sẽ có trách nhiệm thờ c ng bố m và em trai c ng ông bà tổ tiên gia đ nh. Phần còn lại là số tiền khoảng 1.500.000.0000 đồng th sẽ chia đều cho ba anh em gồm: Anh DMT, chị NLQ và chị DTMT mỗi người khoảng 00.000.000 đồng. Anh DMT đề nghị được nhận sử dụng nhà và đất và có trách nhiệm trả tiền cho chị NLQ và chị DTMT.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị NLQ trình bày: Tôi (NLQ) xác nhận toàn bộ các nội dung về di sản thừa kế, thời điểm mở thừa kế và hàng thừa kế c a ông I và bà J như nguyên đơn và bị đơn đã tr nh bày ở trên và không có ý kiến bổ sung hay phản đối g khác. Tôi, anh DMT và chị DTMT là ba anh em ruột. Tôi không muốn giữa các anh em v i nhau có m u thu n. L c bố tôi ốm đau nằm viện, anh DMT không hề có trách nhiệm c ng v i hai chị em tôi chăm sóc bố. Khó khăn chồng chất v bố tôi nằm viện và luôn sống phải có trợ gi p c a máy thở, chi ph để lo cho ông I nằm viện khoảng 1.000.000 (một triệu đồng/ngày và kéo dài khoảng gần một năm (thiếu 02 ngày là tròn một năm . Tôi và chị DTMT phải đi vay mượn tiền để lo chi ph điều trị cho bố. Thực sự tôi không muốn giữa anh em có m u thu n v i nhau. Tuy nhiên, tôi đồng ý v i yêu cầu khởi kiện c a nguyên đơn và đề nghị Tòa án giải quyết ph n chia di sản c a bố m tôi theo quy định c a pháp luật.

Đại diện Viện Kiểm sát nh n d n quận Hồng Bàng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thẩm quyền thụ lý giải quyết vụ án c a Tòa án, tư cách tham gia tố tụng c a các đương sự; việc thu thập chứng cứ c a Tòa án đều tu n th các quy định c a Bộ luật Tố tụng d n sự. Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đều đảm bảo đ ng quy định c a pháp luật. Nguyên đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tu n th đ ng quy định c a pháp luật về quyền và nghĩa vụ c a đương sự. Bị đơn chưa tu n th đ ng quy định c a pháp luật về quyền và nghĩa vụ c a đương sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để xác minh làm rõ thêm một số vấn đề:

- i ch c c a ông I được lập tại Bệnh viện AC nên cần xác minh về việc ông I có đ minh m n, tỉnh táo để nhận thức và điều khiển hành vi c a mình vào thời điểm lập i ch c hay không;

- Kết luận định giá tài sản được lập vào ngày 27-8-2020 nên đến nay đã quá 6 tháng. Theo quy định tại khoản 3 Điều 32 c a Luật giá và mục 7 phần II Thông tư số 2 /201 /TT-BTC ngày 06-3-201 c a Bộ Tài ch nh ban hành tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam. Để đảm bảo quyền lợi cho các bên đương sự, Viện Kiểm sát đề nghị Tòa án tiến hành định giá lại tài sản là di sản thừa kế bao gồm toàn bộ diện t ch 126 m2 đất và nhà tại số 2 ngõ 1, B, C, D để đảm bảo cho sát v i giá thị trường;

- Xác minh việc anh DMT có vi phạm về nghĩa vụ nuôi dưỡng chăm sóc bố m hay không để xác định anh DMT có vi phạm về nghĩa vụ đối v i người để lại di sản không;

- Xác minh việc anh DMT đã về ở ngôi nhà c a ông I từ khi nào và có tôn tạo, sửa chữa thêm được g đối v i di sản không.

Về nội dung giải quyết vụ án: o yêu cầu tạm ngừng phiên tòa để xác minh làm rõ thêm một số vấn đề có liên quan không được Hội đồng xét xử chấp nhận nên Kiểm sát viên không phát biểu quan điểm về nội dung giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xem xét tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Về sự vắng mặt c a đương sự: Tòa án triệu tập hợp lệ phiên tòa đến lần thứ hai nhưng bị đơn v n vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 22 c a Bộ luật Tố tụng d n sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ pháp luật có tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp về thừa kế tài sản. Bị đơn là cá nhân có địa chỉ thường tr tại quận D nên Tòa án nh n d n quận Hồng Bàng thụ lý giải quyết và xác định đ y là vụ án tranh chấp về d n sự theo quy định tại Điều 26 Bộ luật Tố tụng d n sự để thụ lý giải quyết là đ ng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 3 điểm a khoản 1 Điều 39 c a Bộ luật Tố tụng d n sự.

Về pháp luật được áp dụng: Thời điểm mở thừa kế lần thứ nhất (bà J chết ngày 03-12-2006 th Bộ luật n sự năm 200 đang có hiệu lực thi hành. Thời điểm mở thừa kế lần thứ hai (ông I chết ngày 21-02-2019) là sau ngày 01 tháng 7 năm 2016 (là thời điểm Bộ luật n sự năm 201 có hiệu lực thi hành . So sánh các quy định về thừa kế giữa Bộ luật n sự năm 200 và Bộ luật n sự năm 201 không khác nhau nên theo quy định tại Điều 6 Bộ luật n sự năm 201 th cần áp dụng các quy định c a Bộ luật n sự năm 201 để giải quyết vụ án.

Về thời hiệu: Ngày 13-7-2019, nguyên đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết chia di sản thừa kế. Áp dụng Điều 623 Bộ luật n sự năm 201 th yêu cầu chia di sản thừa kế c a cả bà J và ông I v n còn thời hiệu khởi kiện.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nh n d n quận Hồng Bàng phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án đã đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để xác minh làm rõ thêm một số vấn đề liên quan, cụ thể: Ông I có đ minh m n, tỉnh táo để nhận thức và điều khiển hành vi c a m nh vào thời điểm lập i ch c hay không; Đề nghị Tòa án tiến hành định giá lại di sản thừa kế nêu trên cho sát v i giá thị trường; Xác minh về việc ông DMT có vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng đối v i người để lại di sản không và xác minh ông DMT có tôn tạo, sửa chữa thêm được g đối v i di sản không.

Sau khi thảo luận tại phòng nghị án, Hội đồng xét xử nhận thấy không có đ căn cứ để chấp nhận yêu cầu ngừng phiên tòa để xác minh và làm rõ các vấn đề mà đại diện Viện Kiểm sát đã đưa ra, cụ thể:

Việc xác định ông I có minh m n, tỉnh táo khi lập i ch c, thấy: Ông I nhập viện từ tháng 02 năm 201 . Theo giấy chứng tử th ông I chết ngày 21-02-2019, nguyên nh n chết: Suy hô hấp do bị tắc canuyn. Như vậy, từ thời điểm lập di chúc (ngày 04-6-2018 cho đến khi ông I chết là hơn 0 (tám tháng. Tại Biên bản hòa giải ngày 19-6-201 do UBN phường C lập, do ông I đang nằm điều trị tại bệnh viện nên đã y quyền bằng văn bản cho ông X để giải quyết việc ph n chia di sản c a bà J (vợ ông I đối v i anh DMT. Điều này cũng đã thể hiện rõ ý ch c a ông I tại thời điểm còn sống. Mặt khác, tại phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải ngày 17-3-2021, các bên đương sự đều có mặt và không ai có ý kiến phản đối về i ch c c a ông I.

Về việc định giá lại: Sau khi có Kết luận định giá tài sản ngày 27-8-2020, Tòa án đã thông báo bằng văn bản cho các bên đương sự về kết quả định giá tài sản; tại phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải ngày ngày 17-3-2021, anh DMT là người đang quản lý và sử dụng tài sản xác nhận đã nhận được thông báo và không có ý kiến phản đối g về việc định giá. Tại phiên tòa chị DTMT và chị NLQ đều có ý kiến không đề nghị định giá lại v giá trị c a tài sản không có sự thay đổi so v i thời điểm định giá. o vậy, Hội đồng xét xử thấy không có đ căn cứ để chấp nhận yêu cầu định giá lại mà Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đã nêu ra.

Về yêu cầu xác minh anh DMT đã về ở ngôi nhà c a ông I từ khi nào và có tôn tạo, sửa chữa thêm được g đối v i di sản không và xác minh việc anh DMT vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng chăm sóc đối v i người để lại di sản hay không là không cần thiết, bởi lẽ: Tại buổi định giá tài sản anh DMT không hợp tác, không mở cửa cho các thành viên Hội đồng định giá vào làm việc và trong suốt quá tr nh giải quyết vụ án, anh DMT cũng không có bất cứ một ý kiến hay yêu cầu cụ thể g về công sức đóng góp, tôn tạo và sử dụng di sản. Tại phiên tòa, nguyên đơn nêu ý kiến tự nguyện hỗ trợ cho anh DMT số tiền 100.000.000 đồng bao gồm các khoản: Công sức quản lý và duy tr di sản; ch ph sửa chữa nh đối v i di sản (nếu có và chi ph để di chuyển chỗ ở trong trường hợp phải bàn giao lại nhà và đất có tranh chấp. Tại phiên tòa, nguyên đơn (chị DTMT và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (chị NLQ đều xác nhận: Sau khi bà J mất, đến khoảng năm 2010 th anh DMT m i dọn về ở c ng ông I và sau đó t m cách đưa cả vợ con về sống c ng. Chị DTMT và chị NLQ đều không có ý kiến g về việc ông DMT vi phạm nghĩa vụ chăm sóc đối v i bà J. Quá tr nh vợ chồng anh DMT về sinh sống c ng ông I đã xảy ra nhiều m u thu n, đánh cãi nhau thường xuyên nên ông I không thể chịu đựng được và phải b nhà đi sống nhờ nhà các con gái. Thậm tr đã có thời gian ông I phải về quê Vĩnh Bảo sống c ng em gái. Ông I đã có đơn gửi UBN phường C đề nghị về việc không cho phép anh DMT chuyển nhượng, sửa chữa, x y m i hoặc làm thay đổi hiện trạng c a ngôi nhà. Tại i chúc, ông I đã định đoạt toàn bộ di sản c a m nh cho chị DTMT được thừa hưởng. o vậy việc xác định nghĩa vụ chăm sóc nuôi dưỡng c a anh DMT đối v i ông I là không cần thiết và không có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án.

- Về nội dung:

Về yêu cầu khởi kiện c a nguyên đơn: Sau khi bà J và ông I chết, các thành viên trong gia đ nh không thống nhất được việc ph n chia tài sản c a ông I và bà J để lại nên đã xảy ra tranh chấp. Nguyên đơn (chị DTMT đã khởi kiện bị đơn (anh DMT) yêu cầu Tòa án giải quyết việc ph n chia di sản thừa kế theo quy định c a pháp luật.

Về thời điểm mở thừa kế: Bà J chết ngày 03-12-2006. Ông I chết ngày 21-02-2019. o vậy thời điểm mở thừa kế lần thứ nhất là ngày 03-12-2006 và thời điểm mở thừa kế lần thứ hai là ngày 21-02-2019.

Về hàng thừa kế thứ nhất: Bố m đẻ c a ông I và bố m đẻ c a bà J đều đã chết trư c thời điểm mở thừa kế. Bà J có người m nuôi là cụ AD. Tại các biên bản xác minh c a Tòa án đã xác định cụ Đẳm chết đã chết trư c thời điểm mở thừa kế c a bà J (khoảng năm 1996-1997). Ông I và bà J có 0 (bốn người con gồm: Anh DMT, chị NLQ, anh K (đã chết năm 2003, khi chết th anh K chưa có vợ con và chị DTMT. Ông I và bà J không có con nuôi hoặc con riêng nào khác. Như vậy, khi bà J chết th hàng thừa kế thứ nhất c a bà J gồm: Ông I, anh DMT, chị NLQ và chị DTMT. Các bên đương sự trong vụ án đều xác nhận hàng thừa kế thứ nhất c a ông I gồm ba người là: Anh DMT, chị NLQ và chị DTMT.

Về di sản thừa kế: Ông I và bà J có quan hệ là vợ chồng. Khi còn sống, ông I và bà J có tạo lập được khối tài sản chung là: iá trị quyền sử dụng diện t ch đất 126m2 tại thửa đất số: K; địa chỉ: Số nhà M, phường N, quận O, Hải Phòng (nay là số nhà 2 ngõ 1 B, phường C, quận D, Hải Phòng , iấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BP 1 02 do y ban nh n d n quận O cấp ngày 01-8-2013 mang tên ông I. Năm 1999, ông I và bà J đã x y dựng trên đất một căn nhà cấp (nhà một tầng diện t ch x y dựng khoảng 0 m2, tường x y gạch ba banh, lợp tôn xi măng. Năm 2006, bà J chết, ông I tiếp tục quản lý tài sản chung c a vợ chồng là nhà và đất nêu trên. Đến năm 2019, ông I chết. V vậy, di sản thừa kế là giá trị quyền sử dụng đất diện t ch 126m2 và nhà nêu trên. Ngoài ra các bên không tranh chấp về tài sản nào khác.

Tại Kết luận định giá tài sản ngày 27-8-2020 c a Hội đồng định giá UBN quận D đã kết luận:

Về giá trị đất theo quy định c a UBN thành phố Hải Phòng là 1.200.000 đồng/m2: 126 m x 1.200.000 đồng = 1 1.200.000 đồng. iá chuyển nhượng thực tế là: 126m x 20.000.000 đồng = 2. 20.000.000 đồng.

Về giá trị vật kiến tr c sau khấu hao (t nh 16% tại thời điểm định giá là: 32. 2. 00 đồng. Tổng giá trị đất (theo giá chuyển nhượng thực tế và tài sản trên đất là: 2. 20.000.000 đồng + 32. 2. 00 đồng = 2. 2. 2. 00 đồng.

Về hiệu lực c a Di chúc: i ch c c a ông I được lập vào ngày 0 -6-201 có sự chứng kiến c a các người làm chứng là chị P; ĐKNKTT tại địa chỉ: Tổ d n phố Q, phường R, quận S, thành phố Hải Phòng và chị T; ĐKNKTT tại: Số nhà U, tổ d n phố C7, phường V, quận W, thành phố Hải Phòng. Các người làm chứng đều trình bày được chứng kiến việc ông I điểm chỉ vào i ch c trong trạng thái minh m n và không bị lừa dối, đe dọa hoặc bị cưỡng ép. Nội dung i ch c ông I để lại cho con gái là DTMT được thừa hưởng toàn bộ giá trị tài sản c a ông được hưởng có trong khối tài sản chung v i bà J, là hoàn toàn đ ng quy định c a pháp luật. Xét thấy Di chúc ông I lập có nội dung và h nh thức hoàn toàn ph hợp v i quy định tại các điều 630, 631, 632 và 63 c a Bộ luật n sự năm 2015. o vậy, i ch c là hợp pháp và có hiệu lực pháp luật.

Về chia di sản thừa kế:

Về chia di sản thừa kế c a bà J để lại:

- Phần tài sản c a ông I được chia trong khối tài sản chung v i bà J (mở thừa kế lần thứ nhất là: 2. 2. 2. 00 đồng : 2 = 1.276.276. 00 đồng.

- Phần tài sản ông I cùng các con là anh DMT, chị NLQ và chị DTMT mỗi người đều được hưởng khi ph n chia di sản thừa kế c a bà J là: 1.276.276. 00 đồng : = 319.069.100 đồng/người.

Như vậy, tổng giá trị tài sản c a ông I được chia là: 1.276.276. 00 đồng + 319.069.100 đồng = 1. 9 .3 . 00 đồng.

Ông I đã định đoạt theo i ch c để lại cho chị DTMT được thừa hưởng toàn bộ phần tài sản c a m nh trị giá 1. 9 .3 . 00 đồng nên tổng giá trị tài sản mà chị DTMT được hưởng, được chia theo di ch c sẽ là: 1. 9 .3 . 00 đồng (được hưởng theo di chúc c a ông I) + 319.069.100 đồng (do được chia di sản c a bà J) = 1.914.414.600 đồng.

Nguyên đơn và bị đơn đều có yêu cầu được nhận di sản thừa kế bằng hiện vật mà cụ thể là nhận sử dụng toàn bộ nhà và đất nêu trên và sẽ có trách nhiệm chi trả, thanh toán phần giá trị di sản được ph n chia bằng tiền cho các đồng thừa kế khác. Tuy nhiên, xét thấy phần giá trị tài sản mà anh DMT được hưởng chỉ chiếm một phần nh so v i phần mà chị DTMT được hưởng trong khối tài sản ph n chia như đã nêu trong mục [13.1] và [13.2]. V vậy, cần giao toàn bộ tài sản trên cho chị DTMT và buộc chị DTMT phải thanh toán giá trị phần di sản thừa kế bằng tiền cho những người thừa kế còn lại tương ứng v i phần những người này được hưởng. Chị DTMT xác nhận đang cất giữ và quản lý iấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BP 1 02 do y ban nh n d n quận O cấp ngày 01-8-2013 mang tên ông I nên khi ông DMT phải bàn giao nhà và đất nêu trên th không phải có nghĩa vụ bàn giao iấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên.

Tại phiên tòa, chị DTMT nêu ý kiến: o anh DMT là con trai duy nhất còn lại và hoàn cảnh kinh tế có khó khăn nên chị DTMT rất thông cảm và xin được tự nguyện hỗ trợ thêm cho anh DMT số tiền là 100.000.000 đồng bao gồm các khoản: Công sức quản lý và duy tr di sản và chi ph di chuyển chỗ ở. Trường hợp sau này khi bản án có hiệu lực pháp luật, nếu anh DMT tự nguyện bàn giao nhà cho chị DTMT và không phải cưỡng chế thi hành án th khi đó chị DTMT sẽ tiếp tục hỗ trợ thêm cho anh DMT số tiền còn lại để tổng cộng anh DMT được nhận số tiền là 6 0.000.000 đồng. Xét ý kiến c a chị DTMT là hoàn toàn tự nguyện và ph hợp v i quy định c a pháp luật nên cần được ghi nhận.

Về án ph : Theo quy định tại khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 c a y ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án; các đương sự phải chịu tiền án ph d n sự sơ thẩm t nh trên giá trị tài sản được nhận. Cụ thể các khoản tiền làm cơ sở để t nh án ph như sau:

Nguyên đơn (chị DTMT) phải nộp số tiền án ph sơ thẩm là: 36.000.000 đồng + [(1.91 . 1 .600 đồng - 00.000.000 đồng x 3%] = 69.432.438 đồng. Trừ đi số tiền tạm ứng án ph đã nộp khi khởi kiện là 1 .000.000 đồng theo biên lai số AA/2014/0008491, ngày 12-12-2019 c a Chi cục Thi hành án d n sự quận Hồng Bàng th nguyên đơn còn phải nộp tiếp số tiền là: 51. 32. 3 đồng.

Bị đơn (anh DMT) và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (chị NLQ) mỗi người đều phải nộp số tiền án ph d n sự sơ thẩm là: 319.069.100 đồng x 5% = 15.953.455 đồng.

Vì các ẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 609, 610, 611, 612, 613, 630, 631, 632, 634, 649, 650, 651, 659 và 660 c a Bộ luật n sự năm 201 ; khoản Điều 26, khoản 1 Điều 1 7, khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng d n sự; khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1 , ngày 30-12-2016 c a y ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án;

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về chia tài sản thừa kế c a nguyên đơn (chị DTMT) đối v i bị đơn (anh DMT, tức: DMC).

1. Chị DTMT được quyền sử dụng tài sản là diện t ch đất 126m2 và được quyền sở hữu toàn bộ tài sản trên đất tại thửa đất số: K; địa chỉ: Số nhà M, phường N, quận O, Hải Phòng (nay là số nhà 2 ngõ 1, B, phường C, quận D, Hải Phòng theo iấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BP 415802 do y ban nh n d n quận O cấp ngày 01-8-2013 đứng tên ông I.

2. Anh DMT phải giao lại toàn bộ tài sản là diện t ch đất 126m2 và toàn bộ tài sản trên đất tại thửa đất số: K; địa chỉ: Số nhà M, phường N, quận O, Hải Phòng (nay là số nhà 2 ngõ 1, B, phường C, quận D, Hải Phòng, cho chị DTMT.

3. Ngay sau khi anh DMT giao lại tài sản nêu trên, chị DTMT phải có trách nhiệm thanh toán giá trị phần di sản thừa kế bằng tiền cho anh DMT là 319.069.100 đồng (ba trăm m i chín triệu không trăm sáu chín nghìn một trăm đồng).

4. Chị DTMT phải có trách nhiệm thanh toán giá trị phần di sản thừa kế bằng tiền cho chị NLQ là 319.069.100 đồng (ba trăm m i chín triệu không trăm sáu chín nghìn một trăm đồng).

. hi nhận việc chị DTMT tự nguyện hỗ trợ anh DMT số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng chẵn).

6. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi c a số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 3 7 và Điều 6 c a Bộ luật n sự năm 201 , trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

7. Chị DTMT có quyền liên hệ v i cơ quan nhà nư c có thẩm quyền làm th tục kê khai để được công nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền v i đất theo quy định c a pháp luật.

8. Về án ph d n sự sơ thẩm: Nguyên đơn (chị DTMT phải nộp số tiền án ph d n sự sơ thẩm là: 69. 32. 3 đồng (sáu m ơi chín triệu bốn trăm ba m ơi hai nghìn bốn trăm ba tám đồng). Trừ đi số tiền tạm ứng án ph nguyên đơn đã nộp khi khởi kiện là 1 .000.000 đồng (m i tám triệu đồng chẵn) theo biên lai số AA/2014/0008491, ngày 12-12-2019 c a Chi cục Thi hành án d n sự quận Hồng Bàng th nguyên đơn còn phải nộp tiếp số tiền án ph là: 51. 32. 3 đồng (năm m ơi mốt triệu bốn trăm ba m ơi hai nghìn bốn trăm ba tám đồng).

Bị đơn (anh DMT) và Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (chị NLQ) mỗi người đều phải nộp số tiền án ph d n sự sơ thẩm là: 1 .9 3. đồng (m i ăm triệu chín trăm ăm ba nhìn bốn trăm ăm m ơi ăm đồng).

9. Nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 1 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 1 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

10. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án d n sự th người được thi hành án d n sự, người phải thi hành án d n sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án d n sự năm 200 và Luật Thi hành án d n sự sửa đổi bổ sung năm 201 ; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án d n sự.

Cỡ chữ