vanban.org

Bản án 02/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nh n yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị S đối với bà Nguyễn Thị H về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Buộc bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ thanh toán cho bà Lê Thị S số tiền nợ gốc là 20.000.000,đ Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, khoản tiền phải thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài san"
  • Tòa quyết gì? Chấp nh n yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị S đối với bà Nguyễn Thị H về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2021/DS-ST
Ngày 08- 9 -2021
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lý Thị Luân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Khuyên;

2. Ông Đàm Văn Nhạ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Tạ Huyền Trang- Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Ntham gia phiên tòa: Bà Triệu Kim Thúy – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện N, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 15/2021/TLST- DS ngày 07 tháng 6 năm 2021 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2021/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 8 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị S, sinh năm 1955;

Đia chỉ: tổ nhân dân P, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn ( có mặt)

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1960;

Địa chỉ: tổ nhân dân P1, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. (Vắng mặt).

- Người làm chứng:

+ Ông Vũ Xuân N1, sinh năm 1954; Trú tại: tổ nhân dân P, thị trấn Y , huyện N, tỉnh Bắc Kạn ( vắng mặt )

+ Ông Chu Đức S1;( vắng mặt )

+ Anh Chu Đức T; sinh năm 1993; Đều trú tại: tổ nhân dân P1, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn( vắng mặt )

+ Bà La Thị N2, trú tạitổ nhân dân B, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn ( vắng mặt ).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 07 tháng 6 năm 2021, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị S trình bày: Ngày 20/4/2019 bà Scó cho bà Nguyễn Thị H trú tại P1, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn vay với số tiền là 20.000.000,đ với thời hạn vay là từ ngày 20 tháng 4 năm 2019 đến ngày 30 tháng 5 năm 2019 ( âm lịch) giữa hai bên có viết giấy vay tiền và có chữ ký của cả hai bên . Quá thời hạn cho vay bà S đã nhiều lần yêu cầu bà H thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng bà H không thực hiện. Do đó, bà khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị H phải thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc cho bà S với số tiền là 20.000.000,đ ( hai mươi triệu đồng).

- Quá tr nh tố tụng, bà Nguyễn Thị H đã được Tòa án tống đạt th ng áo thụ lý, triệu t p tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp c n, công khai chứng cứ nhưng à H vắng mặt kh ng có lý do, đồng thời cũng kh ng cung cấp tài liệu chứng cứ gì. Tại bản tự khai không ghi ngày tháng chỉ ghi năm 2021 và biên bản lấy lời khai ngày 27 tháng 7 năm 2021 à Nguyễn Thị H trình bày: Bà H có vay của bà S số tiền là 20.000.000,đ vào năm 2017 và thỏa thu n miệng với nhau lãi suất 8.000,đ/1triệu/ngày, cứ 10 ngày bà H trả lãi cho bà S là 1.600.000,đ. Bà H không nhất trí trả số tiền đã vay là 20.000.000,đ cho à Svì bà H đã trả đủ cả gốc và lãi cho bà S tuy nhiên vì do chỗ quen biết nên không làm giấy tờ gì. Bà H trả 1 lần 20.000.000,đ tiền nợ gốc cho bà S tại nhà bà S khi đó kh ng có ai chứng kiến chỉ có bà với bà S.Còn các lần trả tiền lãi, có lần bà S sang nhà bà H thu lãi có con là Chu Đức T và chồng là Chu Đức S1 chứng kiến, có lần bà S thu lãi tại chợ thì có chị La Thị N2 trú tại tổ nhân dân bản B, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắn Kạn chứng kiến. Bà H xác nh n chữ ký trong giấy vay tiền là do bà H ký.

Tại đơn xin xét xử vắng mặt: Bà Nguyễn Thị H đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt bà H và nêu ý kiến kh ng đồng ý đối với yêu cầu đòi tiền nợ của bà Svì bà H đã trả đủ cho bà S số tiền đã vay.

- Những người làm chứng:

+ Tại bản tự khai ngày 28/7/2021 ng Vũ Xuân N1 chồng của bà S trình bày: Việc bà S có cho bà Nguyễn Thị H vay vào thời điểm nào thì không biết, đến khi Công an tỉnh triệu t p bà H đến làm việc thì mới biết bà H có vay của bà S, ông N1 thấy bà H sang nhà nhưng kh ng biết làm g và kh ng được nh n một khoản tiền nào từ bà H. Việc vay nợ giữa bà Svới bà H ông N1 không liên quan.

+ Tại biên bản lấy lời khai ngày 13/8/2021 anh Chu Đức T là con của bà Nguyễn Thị H tr nh ày lúc đầu không biết mẹ ( Nguyễn Thị H ) vay tiền của bà S. Sau đó Thành thấy mỗi tháng bà Sđến nhà một lần hỏi thì mẹ nói là có nợ bà S20.000.000,đ . Tính đến thời điểm năm 2019 th cả gốc và lãi là 50.000.000,đ sau đó T đã đứng ra trả cho bà S chia làm ba lần đủ số tiền 50.000.000,đ và đã xé giấy vay tiền 50.000.000,đ. Anh T không biết là còn giấy vay tiền 20.000.000,đ nếu biết là còn anh T đã kh ng đứng ra trả số tiền 50.000.000,đ thay cho mẹ. Anh T khẳng định chỉ thấy mỗi tháng bà Ssang nhà một lần cụ thể thì không nhớ ngày tháng và thấy mẹ đưa tiền mặt cho bà S mỗi lần từ 2.000.000,đ đến 3.000.000,đ tuy nhiên kh ng thấy làm giấy tờ g , do đi làm ăn xa nhà nên anh T không biết mẹ anh vay bà S tiền để sử dụng vào mục đích g và anh kh ng liên quan nên đề nghị Tòa án kh ng đưa anh T vào tham gia tố tụng.

+ Tại biên bản lấy lời khai ngày 13/8/202: Ông Chu Văn S1 là chồng của bà Nguyễn Thị H tr nh ày: Trong năm 2019 thấy bà S thi thoảng đến nhà ( không nhớ ngày tháng cụ thể) thấy cả hai ngồi nói chuyện và thấy vợ đưa tiền mặt cho bà S mỗi lần từ 2.000.000,đ đến 3.000.000,đ tuy nhiên kh ng iết đó là tiền gì và không thấy làm giấy tờ gì. Ông S1 không biết vợ vay bà S tiền để sử dụng vào mục đích g , thấy vợ và con bảo đã trả hết và ông không liên quan nên đề nghị Tòa án kh ng đưa ng vào tham gia tố tụng.

- Theo bà H khai thì có lần bà Sđến chợ thu tiền lãi của bà có chị N2 biết việc này. Ngày 07/9/2021 Tòa án tiến hành làm việc với bà N2, th được bà N2 cung cấp ý kiến: Khoảng thời gian năm nào th kh ng nhớ lúc đó à H án đ u ở trước quán của bà N2 thì có một đến hai lần có thấy bà Ssang quầy của bà H và có thấy bà H đưa tiền cho bà S tuy nhiên không biết là tiền gì.

- Ý kiến của anh Vũ Văn T1 và anh Vũ Văn T2 là các con của bà Lê Thị S trình bày: Hàng năm có được gửi tiền về cho mẹ, số tiền đã gửi về cho mẹ là của mẹ và mẹ có toàn quyền quyết định hai anh không liên quan.

Tại phiên tòa bà Sgiữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc bà H có trách nhiệm trả cho bà Ssố tiền bà H đã vay là 20.000.000,đ, kh ng yêu cầu tính lãi suất. Bà Sthừa nh n có được sang nhà bà H 04 lần cụ thể ba lần đến lấy số tiền là 50.000.000,đ do à H vay và con trai bà H là anh Thành đứng ra trả hộ, còn một lần đến nhắc bà H về việc còn số tiền chưa trả là 20.000.000,đ. Bà Skhông được nh n số tiền nào tại chợ như à N2 trình bày

- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ntham gia phiên tòa: Quá tr nh giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp lu t về tố tụng dân sự. Bị đơn chưa có mặt theo giấy triệu t p của Tòa án. Tuy nhiên ị đơn à Nguyễn Thị H vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Việc vắng mặt ị đơn, nguyên đơn có mặt tại phiên tòa đề nghị hội đồng xét xử tiến hành xét xử. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 227 Tòa án xét xử vắng mặt ị đơn à Nguyễn Thị H là phù hợp với quy định của Pháp lu t. Những người làm chứng vắng mặt kh ng ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. V v y, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định khoản 2 Điều 229 Bộ lu t Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt những người làm chứng.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 463, 466 Bộ Lu t Dân sự năm 2015. Tuyên xử chấp nh n yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn à Nguyễn Thị H phải trả số tiền 20.000.000,đ cho à Svà phải chịu án phí dân sự sơ thẩm

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Bà Lê Thị S khởi kiện yêu cầu à Nguyễn Thị H trả số tiền đã vay là 20.000.000,đ ( hai mươi ) triệu đồng cho bà S. Hợp đồng được giao kết tại huyện N, tỉnh Bắc Kạn và ị đơn à Nguyễn Thị H trú tại tổ nhân dân P1, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ lu t Tố tụng dân sự, quan hệ pháp lu t là " Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn.

Tại phiên tòa ị đơn à Nguyễn Thị H vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nguyên đơn và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nđề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và những người làm chứng. Hội đồng xét xử thấy rằng ị đơn đã được triệu t p hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; sự vắng mặt những người làm chứng kh ng ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 228, khoản 2 Điều 229 Bộ lu t Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ị đơn à Nguyễn Thị H và những người làm chứng là phù hợp và đúng quy định của pháp lu t.

Về nội dung tranh chấp: Do có mối quan hệ quen biết nên ngày 20 tháng 4 năm 2019 âm lịch bà Lê Thị S cho bà Nguyễn Thị H trú tại tổ nhân dân P1, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn vay với số tiền là 20.000.000 đồng, thời hạn vay từ 20/4/2019 đến ngày 30/5/2019 âm lịch và hai bên có viết giấy vay tiền bà Nguyễn Thị H ký nh n vào ên được vay. Do đã quá thời hạn trả nợ nhưng à H không trả nợ nên bà S khởi kiện buộc bà H trả đủ số tiền gốc đã vay là 20.000.000,đ, kh ng yêu cầu tính lãi suất.

Xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Giấy vay tiền ngày 20/4/2019 âm lịch được bà S và bà H ký kết, thể hiện ý chí tự nguyện thỏa thu n của các bên, không trái pháp lu t, không vi phạm đạo đức xã hội và bị đơn à Nguyễn Thị H cũng xác nh n giấy vay tiền là do mình ký nên có hiệu lực bắt buộc các bên phải thực hiện. Sau khi ký giấy vay tiền bà S đã đưa cho à H vay số tiền 20.000.000,đ. Quá thời hạn trả nợ bà H không trả được nợ cho bà S vì v y nguyên đơn yêu cầu bà H phải trả cho bà S số tiền đã vay là 20.000.000,đ là có căn cứ chấp nh n.

Xét ý kiến của bị đơn à Nguyễn Thị H: Năm 2019 à H có viết giấy vay nợ của bà Lê Thị S là 20.000.000,đ việc vay tiền của bà S là tự nguyện viết giấy vay và tự ký nh n là người vay tiền. Bà H cho rằng quá trình vay tiền của bà S, bà H đã đã được đã trả đủ số tiền gốc là 20.000.000,đ cho à Svà nhiều lần trả tiền lãi cho bà S tuy nhiên bà H không có tài liệu, chứng cứ chứng minh. Mặt khác, những người làm chứng trình bày có thấy bà H đưa tiền cho bà S tuy nhiên không biết đó là tiền gì và bà H không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì về việc đã trả đủ số tiền đã vay. Do v y kh ng có căn cứ để xem xét.

- Xét ý kiến của bị đơn cho rằng bà S cho vay nặng lãi và năm 2019, 2020 không nhớ chính xác bà H đã có yêu cầu giải quyết về hành vi cho vay nặng lãi của bà S tại cơ quan C ng an tỉnh Bắc Kạn.

Ngày 28/7/2021 Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn đã có c ng văn số 917/CV-TA về việc yêu cầu Phòng cảnh sát hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn cung cấp bản sao toàn bộ hồ sơ liên quan đến việc cho vay nặng lãi giữa bà Nguyễn Thị H với bà Lê Thị S.

Tại bản kết thúc điều tra ngày 06/11/2020 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Kạn, kết quả xác minh đã kết lu n: Quá tr nh khám xét nơi ở của bà S phát hiện, tạm giữ 02 hai giấy vay tiền, ên được vay là Nguyễn Thị H: Lần 1 số tiền vay 20.000.000,đ từ ngày 20/4/2019 đến ngày 30/5/2019; lần 2 số tiền vay 50.000.000,đ từ ngày 27/4/2019 đến ngày 10/5/2019. Như v y, Về số tiền đã vay của bà S lần 2 là 50.000.000,đ đã được con là anh Chu Đức T trả hộ, còn số tiền bà H vay của bà Slần 1 là 20.000.000,đ bà H cho rằng đã trả đủ cả gốc và lãi, nhưng các lần trả kh ng có người chứng kiến và bà H cũng kh ng cung cấp được tài liệu, chứng cứ về việc nộp lãi cho bà S nên kh ng đủ căn cứ xác định số tiền bà H đã nộp lãi và đã trả gốc 20.000.000,đ cho à S.

Tại quyết định số 20/CSĐT ngày 06/11/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Kạn sau khi kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm thấy: Hành vi của Lê Thị S, sinh năm 1955, trú tại tổ nhân dân P, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn không cấu thành tội phạm tội Chứa mại dâm và tội Cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự và quyết định không khởi tố vụ án hình sự đối với tin báo về tội phạm " Môi giới mại dâm", "Chứa mại dâm" và " Cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự" xảy ra ngày 09/7/2020 tại thị trấn Y, huyện N, Tỉnh Bắc Kạn

Như v y ý kiến của bà H cho rằng bà S cho vay nặng lãi và đã trả gốc là kh ng có căn cứ chứng minh.

Đánh giá về lời khai của những người làm chứng: Những người làm chứng đều cho rằng có thấy bà H đưa tiền cho bà S tuy nhiên không nhớ ngày tháng cụ thể, không biết là tiền gì và không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì để chứng minh nên Hội đồng xét xử kh ng có cơ sở để xem xét.

Từ những phân tích trên, Tòa án thấy: Do có mối quan hệ quen biết nên ngày 20 tháng 4 năm 2019 âm lịch bà Lê Thị S cho bà Nguyễn Thị H trú tại tổ nhân dân P1, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn vay với số tiền là 20.000.000 đồng, thời hạn vay từ 20/4/2019 đến ngày 30/5/2019 âm lịch và hai bên có viết giấy vay tiền bà Nguyễn Thị H ký nh n vào ên được vay . Quá trình giải quyết vụ án bà H xác nh n chữ ký trong giấy vay tiền là do bà H ký và cho rằng đã trả đủ cả gốc và lãi, nhưng các lần trả kh ng có người chứng kiến và bà H cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ về việc nộp tiền gốc và lãi cho bà S. Nên bà Lê Thị Skhởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị H trả số tiền gốc đã vay là 20.000.000,đ cho à Slà có cơ sở và cần được chấp nh n.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nh n toàn bộ nên bà Nguyễn Thị H phải chịu theo quy định của Điều 147 Bộ lu t Tố tụng Dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, 35, Điều 39 các Điều 144, 147, 227, 229, 266, 271 và 273 của Bộ lu t Tố tụng Dân sự 2015;

Căn cứ Điều 463, 465, 466 và 357 Bộ Lu t Dân sự 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nh n yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị S đối với bà Nguyễn Thị H về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

- Buộc bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ thanh toán cho bà Lê Thị S số tiền nợ gốc là 20.000.000,đ

Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, khoản tiền phải thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị H phải chịu số tiền 1.000.000,đ ( Một triệu) đồng. Trả lại cho bà Lê Thị S số tiền 500.000,đ ( năm trăm ngh n ) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 07005 ngày 07 tháng 6 năm 2021 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện N, tỉnh Bắc Kạn.

3. Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nh n được bản án hoặc bản án được niêm yết.

4. Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Lu t Thi hành án dân sự th người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thu n thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Lu t thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Lu t thi hành án dân sự ./.

Cỡ chữ