vanban.org

Bản án 02/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường

vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Vay tiền không trả"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 463 Bộ luật Dân sự; Điều 466 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DIÊN KHÁNH
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2021/DS-ST
Ngày: 28 - 4 - 2021
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH

TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Đức Thuận

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Trực;

Bà Thái Thị Mỹ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Tuyết - Thư kýTòa án nhân dân huyện

Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Hữu Cường – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh

mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án dân sự thụ

lý số: 82/2020/TLST-DS ngày 15 tháng 10 năm 2020 về "Tranh chấp hợp đồng

vay tài sản" theo quyết định đưa vụ án xét xử số: 04/2021/QĐXXST-DS ngày 30

tháng 3 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T – sinh năm 196x

Địa chỉ: xã D, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Bà T có mặt

2. Bị đơn: Ông Ngô Lê Thành T – sinh năm 198x

Bà Nguyễn Thị Lan C – sinh năm 198x

Cùng địa chỉ: xã D, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Ông T, bà C có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 05/10/2020, bản tự khai ngày 29/10/2020,biên

bản hòa giải ngày 11/01/2021, tài liệu chứng cứ cung cấp cho Tòa án và tại phiên

tòa, bà Nguyễn Thị T trình bày:

Ngày 20/3/2016, vợ chồng ông Ngô Lê Thành T và bà Nguyễn Thị Thanh

C có đến nhà hỏi bà vay số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) để làm

ăn, thời gian trả nợ đến ngày 20/12/2016. Các bên có viết giấy vay mượn tiền.

Khi đến hạn trả nợ chung vợ chồng ông T, bà C không trả nợ cho bà. Khi bà hỏi

thì ông T, bà C hẹn đến năm 2017 sẽ trả hết nợ. Qua nhiều lần đòi nợ, đến nay

ông T, bà C đã trả cho bà được 103.800.000 đồng (một trăm lẻ ba triệu tám trăm nghìn đồng). Cụ thể: Năm 2018 trả 69.000.000 đồng, năm 2019 trả 31.500.000 đồng, năm 2020 trả 3.300.000 đồng, còn nợ lại bà số tiền 96.200.000 đồng (chín mươi sáu triệu hai trăm nghìn đồng). Nay bà yêu cầu ông T, bà Ctrả cho bà một lần số tiền còn nợ là 96.200.000 đồng (chín mươi sáu triệu hai trăm nghìn đồng), bà không yêu cầu lãi suất.

*Tại bản tự khai ngày 29/10/2020, biên bản hòa giải ngày 10/01/2021 và

tại phiên tòa bị đơn ông Ngô Lê Thành T trình bày:

Do cần tiền giải quyết việc riêng nên ngày 20/3/2016, vợ chồng ông có

vay của bà Nguyễn Thị T số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) như bà T trình bày. Quá trình vay, vợ chồng ông đã trả cho bà T được 127.800.000 đồng. Cụ thể năm 2017 trả 93.000.000 đồng, năm 2018 trả 18.000.000 đồng, năm 2019 trả 14.500.000 đồng, năm 2020 trả 3.300.000 đồng, còn nợ lại bà Tâm số tiền 72.200.000 đồng. Nay do điều kiện kinh tế khó khăn nên vợ chồng xin trả cho bà T mỗi tháng 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) cho đến khi hết nợ. Vợ chồng ông xin bà T không tính tiền lãi.

*Tại bản tự khai ngày 29/10/2020, biên bản hòa giải ngày 10/01/2021 và

tại phiên tòa bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh C trình bày: Việc vay nợ bà T và trả nợ đúng như chồng bà là Ngô Lê Thành T trình bày, vợ chồng bà đã trả nợ cho bà Tâm được 127.800.000 đồng, còn nợ lại 72.200.000 đồng. Nay do điều kiện kinh tế khó khăn nên vợ chồng bà xin trả cho bà T mỗi tháng 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) cho đến khi hết nợ. Vợ chồng bà xin bà T không tính tiền lãi.

* Ý kiến của Viện kiểm sát: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu

của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền 96.200.000 đồng. Nguyên đơn không yêu cầu lãi suất nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét (có bài phát biểu chi tiết kèm theo hồ sơ).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ

vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét thấy:

Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T yêu cầu vợ

chồng ông Ngô Lê Thành T và bà Nguyễn Thị Thanh C trả lại số tiền còn nợ của bà là 96.200.000 đông (Chín mươi sáu triệu hai trăm nghìn đồng). Đây là tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn khởi kiện, bà Nguyễn Thị T yêu

cầu vợ chồng ông Ngô Lê Thành T và bà Nguyễn Thị Thanh C trả lại số tiền còn nợ của bà là 96.200.000 đông (Chín mươi sáu triệu hai trăm nghìn đồng), các bên có lập giấy mượn và ký tên; yêu cầu của bà Nguyễn Thị T là tranh chấp hợp đồng vay tài sản được Tòa án xem xét giải quyết theo quy định tại Điều 463 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Về nội dung tranh chấp: Ngày 20/3/2016 bà Nguyễn Thị T có cho

vợ chồng ông Ngô Lê Thành T và bà Nguyễn Thị Thanh C vay với số tiền là:

200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng), thời hạn vay 09 tháng, vay không lãi

suất. Bị đơn ông Ngô Lê Thành T và bà Nguyễn Thị Thanh C cũng thừa nhận

việc vay nợ như trình bày của nguyên đơn. Việc vay mượn các bên có giấy xác

nhận nợ, vì vậy đây là giao dịch hợp pháp nên cần được công nhận. Bà T cho

rằng ông T và bà C đã trả cho bà được 103.800.000 đồng, còn nợ lại

96.200.000 đồng.

Ông T và bà C cho rằng vợ chồng bà đã trả cho bà T được 127.800.000

đồng, còn nợ lại 72.200.000 đồng.

Về chứng cứ chứng minh: Bị đơn cung cấp giấy tờ thể hiện số tiền

trả nợ cho bà T. Đến năm 2019 vợ chồng ông T và bà C còn nợ bà T số tiền

99.500.000 đồng (chín mươi chín triệu năm trăm nghìn đồng). Đến tháng 02 và

tháng 3 năm 2020 trả được thêm 3.300.000 đồng. Tổng cộng vợ chồng ông T,

bà C đã trả cho bà T được 103.800.000 đồng. Ngoài ra, không có chứng cứ gì

khác chứng minh ông T, bà C đã trả hơn số tiền trong giấy tờ trả nợ. Chứng cứ

do bị đơn cung cấp phù hợp với yêu cầu của nguyên đơn.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xem xét yêu cầu khởi kiện

của bà Nguyễn Thị T như sau:

Việc vợ chồng ông Ngô Lê Thành T và bà Nguyễn Thị Thanh C vay bà

Nguyễn Thị T số tiền 200.000.000 đồng, có viết giấy và được các bên thừa

nhận nên đây là giao dịch hợp pháp. Căn cứ vào giấy nhận nợ, lời khai của

nguyên đơn, chứng cứ trả nợ do bị đơn cung cấp thể hiện việc vay tiền và trả

tiền là phù hợp với yêu cầu của nguyên đơn Nguyễn Thị T. Do vậy, nguyên

đơn bà Nguyễn Thị T yêu cầu vợ chồng ông Ngô Lê Thành T và bà Nguyễn

Thị Thanh C trả số tiền còn nợ là 96.200.000 đồng (Chín mươi sáu triệu hai

trăm nghìn đồng) là có căn cứ. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn,

buộc vợ chồng ông Ngô Lê Thành T và bà Nguyễn Thị Thanh C phải trả cho

bà Nguyễn Thị T số tiền còn nợ là 96.200.000 đồng (Chín mươi sáu triệu hai

trăm nghìn đồng). Nguyên đơn không yêu cầu lãi suất nên không xem xét.

Án phí: do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên vợ chồng

ông Ngô Lê Thành T và bà Nguyễn Thị Thanh C phải chịu án phí dân sự sơ

thẩm có giá ngạch là 5% trên tổng số tiền phải trả là 96.200.000 đồng (Chín

mươi sáu triệu hai trăm nghìn đồng).

Số tiền án phí bị đơn phải chịu là: 96.200.000 đồng x 5% = 4.810.000

đồng, hoàn lại tiền tạm ứng án phí cho bà Nguyễn Thị T.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

Điều 463; Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường

vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn:

Buộc ông Ngô Lê Thành T bà bà Nguyễn Thị Thanh C phải trả cho bà

Nguyễn Thị T số tiền là 96.200.000 đồng (chín mươi sáu triệu hai trăm nghìn đồng đồng) khi bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Án phí: ông Ngô Lê Thành T và bà Nguyễn Thị Thanh C phải chịu

4.810.000 đồng (bốn triệu tám trăm mười nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn lại cho bà Nguyễn Thị T 5.150.000 đồng (năm triệu một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số AA/2019/00018xx ngày 15/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Diên Khánh.

3. Quy định:

Kể t khi bản án có hiệu lực pháp lu t hoặc kể t ngày có đơn yêu cầu thi

hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ lu t dân sự năm 2015

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành, theo quy định tại Điều 2

u t Thi hành án ân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền th a thu n thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cư ng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 u t Thi hành án ân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 0 u t Thi hành án.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án sơ

thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ