- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Lưu Tấn Hạnh Trường T, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Huỳnh Lưu Tấn Hạnh Trường T, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2020/HSST Ngày: 09/01/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thạch
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Nam Tiến
2. Bà Trần Thị Ngọc Linh
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Việt Quốc, Thư ký Tòa án nhân dân huyện T
- Đại diện Viện kiểm sát huyện T tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thìn, Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 129/2019/HSST, ngày 25/12/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 134/019/HSST ngày 27/12/2019, đối với bị cáo:
Huỳnh Lưu Tấn Hạnh Trường T, tên gọi khác: Gô; sinh năm: 1991; tại: tỉnh Bình Thuận. Nơi cư trú: thôn Lâm Lộc 2, xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt nam; con ông Huỳnh Văn Đ và bà Nguyễn Thị L; vợ: Tạ Thị Bích C, sinh năm 1990; con: có 03 người (lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2019); tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt ngày 07/11/2019 và có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các T liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau:
Vào khoảng 10 giờ 45 phút ngày 07/11/2019, tổ công tác Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy (PC04) – Công an tỉnh Bình Thuận phối hợp với tổ công tác Công an huyện T và Công an xã H tiến hành kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang Huỳnh Lưu Tấn Hạnh Trường T tàng trữ trái phép chất ma túy tại nhà của T ở thôn Lâm Lộc 2, xã H, huyện T. Thu giữ trên nền nhà gần nơi Huỳnh Lưu Tấn Hạnh Trường T đang ngồi gồm: 01 ống nhựa hình trụ tròn, kích thước 02x07cm, có nắp đậy màu trắng, trên thân ống có quấn băng keo màu đen, bên trong có chứa 18 đoạn ống nhựa (loại ống hút nước giải khát được cắt ngắn) màu trắng được hàn kín hai đầu, kích thước 0,5x02cm bên trong có chứa chất màu trắng, T khai nhận là heroin T cất giấu để sử dụng; 01 điện thoại di động màu xanh đen hiệu Nokia; 01 điện thoại di động màu đen hiệu Oppo và 01 cây kéo bằng kim loại dài 09cm.
Huỳnh Lưu Tấn Hạnh Trường T khai nhận: khoảng 11 giờ ngày 06/11/2019 T đi đến khu vực chợ thị trấn Phan Rí Cửa mua của 01 người chạy xe ôm 01 cục heroin quấn trong bịch nylon với giá 2.000.000 đồng. T mang số heroin đã mua được về nhà ở thôn Lâm Lộc 2, xã H phân lẻ để sử dụng 03 lần. Đến sáng ngày 07/11/2019 T tiếp tục sử dụng heroin 01 lần và phân lẻ số heroin còn lại thành 18 tép nhỏ bỏ vào trong 01 ống nhựa hình trụ tròn, kích thước 02x07cm để cất giấu đến khi bị bắt giữ cũng tang vật
Ngày 08/11/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu giám định số 166, trưng cầu giám định 18 đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu, kích thước 0,5x02cm bên trong có chứa chất màu trắng (ký hiệu M).
Tại bản kết luận giám định số 1002/KLGĐ-PC09 ngày 13/11/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận kết luận: Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,8433 gam, là Heroine.
Bản cáo trạng số: 04/CT/VKS-HS, ngày 24/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T, đã truy tố bị cáo Huỳnh Lưu Tấn Hạnh Trường T, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015(sửa đổi bổ sung năm 2017)
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố và tranh luận vẫn giữ nguyên cáo trạng và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015(sửa đổi bổ sung năm 2017). xử phạt bị cáo T từ 12 tháng đến 18 tháng tù.
Về phần xử lý tang vật chứng: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tuyên xử:
- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động màu xanh đen hiệu Nokia, số imel 1: 359007094436278, số imel 2: 359007095436277 kèm theo số thuê bao 0985823525; 01 điện thoại di động màu đen hiệu Oppo số imel 1: 868683045640756, số imel 2: 868683045640749 kèm theo số thue bao 0946564143 thu giữ của bị cáo.
- Tịch thu tiêu huỷ mẫu vật còn lại sau giám định gồm: 18 đoạn ống nhựa màu trắng đã cắt lấy mẫu và 0,6024gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1002; 01 ống nhựa hình trụ tròn, kích thước 02x07cm, có nắp đậy màu trắng, trên thân ống có quấn băng keo màu đen và 01 cây kéo bằng kim loại dài 09cm.
Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo không nói lời sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên:
Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó có cơ sở khẳng định các hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp đúng quy định của pháp luật.
Về chứng cứ và hành vi của bị cáo:
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Huỳnh Lưu Tấn Hạnh Trường T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu, bị cáo khẳng định những lời khai của mình trong quá trình điều tra vụ án là hoàn toàn tự nguyện, không bị bức cung, ép cung và cáo trạng truy tố là hoàn toàn đúng, không oan. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết quả giám định chất ma tuý và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: vào ngày 07/11/2019 Huỳnh Lưu Tấn Hạnh Trường T đã cất giữ trong nhà của T, tại thôn Lâm Lộc 2, xã H gồm 18 đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu, kích thước 0,5x02cm bên trong có chứa Heroine có khối lượng 0,8433 gam, để sử dụng thì bị phát hiện, thu giữ. Vì vậy, bản cáo trạng số 04/CT/VKSTP-HS ngày 24/12/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện T, truy tố bị cáo Huỳnh Lưu Tấn Hạnh Trường T, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) như đã viện dẫn trong cáo trạng là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và mức hình phạt:
Ma tuý, là loại độc dược, là chất gây nghiện mà Nhà nước đã nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, sử dụng trái phép…đây là một trong những nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội, các căn bệnh thế kỷ, làm lây truyền vi rut gây bệnh khó chữa, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và sự phát triển giống nòi của dân tộc, thế nhưng bị cáo đã coi thường pháp luật, bất chấp hậu quả, thực hiện hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, nên cần phải xử lý bị cáo bằng một mức án nghiêm khắc, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, để có đủ thời gian cai nghiện và cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người tốt, công dân có ích cho xã hội, đồng thời để bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật hình sự Việt Nam.
Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tiền án tiền sự, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), nên cần xem xét chiếu cố khi xử lý, để giảm nhẹ cho bị cáo một phần trong mức hình phạt, để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Nhà nước Xã hội chủ nghĩa.
Về xử lý tang, vật chứng:
- Đối với 01 điện thoại di động màu xanh đen hiệu Nokia, số imel 1: 359007094436278, số imel 2: 359007095436277 kèm theo số thuê bao 0985823525 và 01 điện thoại di động màu đen hiệu Oppo số imel 1: 868683045640756, số imel 2: 868683045640749 kèm theo số thue bao 0946564143 thu giữ của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội, nên trả lại cho bị cáo.
- Đối với mẫu vật còn lại sau giám định gồm: 18 đoạn ống nhựa màu trắng đã cắt lấy mẫu và 0,6024gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1002 đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và 01 ống nhựa hình trụ tròn, kích thước 02x07cm, có nắp đậy màu trắng, trên thân ống có quấn băng keo màu đen và 01 cây kéo bằng kim loại dài 09cm là các vật dụng dùng trong việc phạm tội, nên tịch thu tiêu hủy.
Về án phí:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của pháp luật.
Đối với quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
2. Tuyên bố: bị cáo Huỳnh Lưu Tấn Hạnh Trường T, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
3. Xử phạt: bị cáo Huỳnh Lưu Tấn Hạnh Trường T 12(Mười hai) tháng tù, thời gian ở tù tính từ ngày bị bắt (07/11/2019)
4. Phần xử lý tang vật chứng: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Trả lại cho bị cáo T 01 điện thoại di động màu xanh đen hiệu Nokia, số imel 1: 359007094436278, số imel 2: 359007095436277 kèm theo số thuê bao 0985823525 và 01 điện thoại di động màu đen hiệu Oppo số imel 1: 868683045640756, số imel 2: 868683045640749 kèm theo số thue bao 0946564143.
- Tịch thu tiêu huỷ mẫu vật còn lại sau giám định gồm: 18 đoạn ống nhựa màu trắng đã cắt lấy mẫu và 0,6024gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1002 và các vật dụng dùng trong việc phạm tội gồm: 01 ống nhựa hình trụ tròn, kích thước 02x07cm, có nắp đậy màu trắng, trên thân ống có quấn băng keo màu đen và 01 cây kéo bằng kim loại dài 09cm
(Vật chứng được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/12/2019, giữa Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện T).
5.Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6.Về quyền kháng cáo: án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (09/01/2020).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKS (tỉnh + huyện); - Công an huyện - Chi cục THA huyện; - Bị cáo - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Thạch |