- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy do Lê Văn Tr thực hiện - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn Tr phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2020/HSST Ngày 20-01-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Triều.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Minh Út
Bà Phạm Hồng Ân
- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Sơn Ca là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Hồ Văn Kệ - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2019/TLST-HS, ngày 23 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2020/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Văn Tr, sinh ngày 12 tháng 11 năm 1991 tại huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau; nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Khóm X, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm Thuê; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Tấn Th và bà Trần Thị T; bị cáo chưa có vợ; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15 tháng 10 năm 2019 sau đó chuyển tạm giam cho đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 18 giờ 20 phút ngày 15 tháng 10 năm 2019, Công an huyện Phú Tân bắt quả tang của Lê Văn Tr đang cất giữ trên người 02 bọc nilon bên trong chứa tinh thể màu trắng, tiến hành khám xét nơi ở của Tr thuộc khóm 1, thị trấn Cái Đôi Vàm, huyện Phú Tân phát hiện thu giữ thêm 34 bọc nilon bên trong có chứa tinh thể màu trắng. Qua kết quả xét nghiệm xác định Tr dương tính với ma túy.
- 1 -
Tại Kết luận giám định số 154/GĐH-PC09 ngày 17 tháng 10 năm 2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau, tinh thể màu trắng bên trong 36 bọc nilon thu giữ này là ma túy loại Methamphetamine có tổng khối lượng là 2,4900gam.
Tại Cáo trạng số 01/CT-VKS, ngày 20 tháng 12 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân đã truy tố bị cáo Lê Văn Tr về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân giữ nguyên cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Văn Tr phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy và áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn Tr từ 02 (hai) năm đến 03 (ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Do bị cáo nghiện ma túy nên đã đem số ma túy trên của một người bạn ở thành phố Hồ Chí Minh không rõ lai lịch cho từ đầu năm 2019 về nhà cất giấu nhằm mục đích sử dụng đến ngày 15 tháng 10 năm 2019 bị Công an huyện Phú Tân phát hiện thu giữ. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Tân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 15 tháng 10 năm 2019 của Công an huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau, phù hợp với vật chứng đã thu giữ và phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định bị cáo cất giấu trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine có tổng khối lượng là 2,4900gam nhằm mục đích để sử dụng. Bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó, Cáo trạng số 01/CT-VKS, ngày 20 tháng 12 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân đã truy tố bị cáo Lê Văn Tr về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là có cơ sở, đúng pháp luật.
- 2 -
Xét tính chất mức độ hành vi do bị cáo gây ra là rất nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, xâm phạm an ninh trật tự xã hội; bị cáo nhận thức và biết được việc tàng trữ và sử dụng ma túy tạo điều kiện làm gia tăng tệ nạn nghiện hút ma túy và còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp; bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng. Do đó, cần có một mức án nghiêm khắc đối với bị cáo để bị cáo lao động, học tập trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, cũng cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo một phần hình phạt vì bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt như trên đối với bị cáo có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vật chứng của vụ án: 01 gói niêm phong số 154/GĐH-PC09 ngày 17 tháng 10 năm 2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau, bên trong chứa 2,3389 gam ma túy loại Methamphetamin và bao gói niêm phong gửi giám định; 01 chiếc giày bên trái, trên giày có chữ D&G dùng để cất giấu ma túy thu giữ của bị cáo Tr. Các vật chứng này không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm buộc bị cáo Lê Văn Tr phải nộp 200.000đ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lê Văn Tr phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt: Bị cáo Lê Văn Tr 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15 tháng 10 năm 2019.
2. Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự và áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong số 154/GĐH-PC09 ngày 17 tháng 10 năm 2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau, bên trong chứa 2,3389 gam ma túy loại Methamphetamine (mẫu A1: 0,2779 gam, mẫu A2: 2,0610 gam) và bao gói niêm phong gửi giám định; 01 chiếc giày bên trái, trên giày có chữ D&G.
Vật chứng hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 01/QĐ-VKS ngày 20 tháng 12 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân và biên bản giao, nhận vật chứng ngày 23 tháng
- 3 -
12 năm 2020 giữa Công an huyện Phú Tân và Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân.
3. Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lê Văn Tr phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau; - Công an huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau; - Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, văn thư. - 4 - | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Việt Triều |