- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mào Văn Tuyển - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Mào Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG CHÀ TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2020/HSST Ngày 19/11/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG CHÀ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Hưng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông: Lò Văn Nhân
2. Ông: Hạng Sáy Dua
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Phìn Đại Quảng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện MC, tỉnh Điện Biên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện MC tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở UBND xã Mường Tùng, huyện MC, tỉnh Điện Biên xét xử lưu động sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 04/2020/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử của Tòa án nhân dân huyện MC số: 02/2020/QĐXXST- HS ngày 06 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo:
Mào Văn T (tên gọi khác: không), sinh năm 1986, tại thị xã ML, tỉnh Điện Biên.
Nơi cư trú: Bản TS, xã LN, thị xã ML, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Làm ruộng, nương; trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Mào Văn Ch - sinh năm 1962, con bà Khoàng Thị C - sinh năm 1964; Vợ: Lò Thị T, sinh năm 1990 (đã ly hôn), bị cáo có 01 con sinh năm 2006; Tiền sự: không; Tiền án: 4 tiền án: Ngày 26/4/2008, Mào Văn T bị Tòa án thị xã ML xử phạt 24 tháng tù tại bản án số 06/2008/HSST về tội Trộm cắp tài sản và tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, ngày 10/01/2010 chấp hành xong hình phạt; Ngàỵ 26/10/2010, Mào Văn T bị Tòa án nhân dân huyện MC xử phạt 36 tháng tù tại bản án số 01/2010/HSST vê tội Vận chuyển trái phép chất ma túy, ngày 31/01/2013 chấp hành xong hình phạt; Ngày 30/8/2013, bị Tòa án thị xã ML xử phạt 42 tháng tù tại bản án số 13/2013/HSST về tội Trộm cắp tài sản, đến ngày 08/01/2017 chấp hành xong hình phạt; Ngày 28/9/2017, bị Tòa án thị xã ML xử phạt 24 tháng tù tại bản án số 17/2017/HSST về tội Trộm cắp tài sản, đến ngày 14/7/2019 chấp hành xong hình phạt; Bị cáo bị tạm giữ ngày 29/9/2020, tạm giam ngày 08/10/2020; Nhân thân: Đã bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Mào Thị V, sinh năm: 1981. Nơi cư trú: Bản LSC, xã ST, huyện MN, tỉnh Điện Biên. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Mào Văn T là người nghiện ma túy để có ma túy sử dụng cho bản thân, khoảng 16 giờ ngày 29/9/2020, Mào Văn T điều khiển xe máy BKS 27B2- 049.35 từ nhà xuống khu vực bản PC, xã MT, huyện MC tìm mua ma túy. Khi đi đến một ngôi nhà hoang ở bản PC, T dựng xe máy ở ngoài đường đi vào phía sau ngôi nhà để đi vệ sinh thì gặp một người đàn ông tên NG. T hỏi NG có ma túy thì bán nợ cho T 100.000 đồng, ngày hôm sau T sẽ trả tiền, NG đồng ý bán cho T 01 gói Heroine. Đến 17 giờ cùng ngày sau khi mua được Heroine, T cầm trong tay trái đi bộ ra chỗ dựng xe thì phát hiện thấy tổ công tác Công an huyện MC, vì sợ nên T đã thả gói Heroine mà T cầm trong tay trái xuống đất ngay chỗ T đứng. Tổ công tác yêu cầu T nhặt gói Heroine mà T vừa thả xuống lên kiểm tra, T thừa nhận đó đúng là ma túy của T. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ 01 gói Heroine có khối lượng 0,199 gam của T.
Mào Văn T phạm tội trong khi trước đó đã bị Tòa án xét xử nhiều lần trong đó vào ngày 28/9/2017, bị Tòa án nhân dân thị xã ML xử 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo bản án số 17/2017/HSST và bị áp dụng tình tiết tăng nặng tái phạm. Ngày 14/7/2019, T chấp hành xong hình phạt của bản án năm 2017. Như vậy, tính đến ngày 29/9/2020, khi T thực hiện hành vi phạm tội mới là thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm.
Kết luận giám định số: 890/GĐ-PC09, ngày 07/10/2020, của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Điện Biên kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Mào Văn T gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine. Khối lượng vật chứng thu giữ của Mào Văn T là 0,199gam.
Cáo trạng số: 35/CT-VKS-MC ngày 03/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện MC, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Mào Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Vật chứng đã thu giữ: 0,199 gam Heroine trích mẫu gửi giám định 0,087 gam còn lại 0,112 gam và 01 mảnh giấy bạc, 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; 01 xe máy BKS 27B2-049.35.
Trong quá trình điều tra, cơ quan CSĐT Công an huyện MC đã trả lại 01 xe máy BKS 27B2-049.35 cho chủ sở hữu hợp pháp là Mào Thị Vui.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện MC, tỉnh Điện Biên giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm: Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo Mào Văn T từ 5 năm đến 5 năm 6 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS để xử lý vật chứng.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136/BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Mào Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời nói sau cùng bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Mào Thị Vui vắng mặt, Hội đồng xét xử công bố lời khai của người này tại phiên tòa. Bị cáo đồng ý với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1. Tại phiên tòa, bị cáo Mào Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng vật chứng và kết luận giám định, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để xác định: Hồi 17 giờ ngày 29/9/2020, tai khu vực bản Pom Cại, xã Mường Tùng, huyện MC, tỉnh Điện Biên, Mào Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,199 gam Heroine.
HĐXX thấy rằng hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy " theo quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự. Ngày 28/9/2017, bị cáo bị Tòa án nhân dân thị xã ML xử 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo bản án số 17/2017/HSST và bị áp dụng tình tiết tăng nặng tái phạm. Ngày 14/7/2019, T chấp hành xong hình phạt của bản án. Đến ngày 29/9/2020 T thực hiện hành vi phạm tội mới như vậy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội khi đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý là tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53/BLHS. Đây là tình tiết định khung tăng nặng được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249/BLHS. Viện kiểm sát nhân dân huyện MC truy tố và kết luận bị cáo phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249/BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan.
2. Xét về tính chất của vụ án và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi của bị cáo có tính chất rất nghiêm trọng, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước, bản thân bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối với đời sống kinh tế và sức khỏe của con người, nhưng để thỏa mãn nhu cầu nghiện ma túy của bản thân bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, hành vi phạm tội của bị cáo đã làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn huyện MC và góp phần làm cho ma túy tồn tại và phát triển. Bởi vậy, cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, để cải tạo giáo dục riêng và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.
Bị cáo là người nghiện chất ma túy đã nhiều lần bị Tòa án xét xử đã được giáo dục, cải tạo nhiều lần nhưng tiếp tục cố ý phạm tội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử thấy rằng tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của bản thân. Bởi vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS, để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Ngoài hình phạt chính, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt bổ sung. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án (biên bản xác minh thu nhập, tài sản) và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, tài sản không có gì giá trị, hiện đang sống với bố mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
3. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện MC, tỉnh Điện Biên, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân nhân huyện MC; trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện theo đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng với quy định của pháp luật.
4. Về vật chứng:
- 0,112 gam Heroine còn lại sau khi trích mẫu giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành và 01 mảnh giấy bạc, 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu là vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS .
5. Về án phí:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136/BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Mào Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Mào Thị V là chủ sở hữu chiếc xe mày BKS 27B2 - 049.35 bị cáo sử dụng khi chị Vui gửi xe ở nhà bố mẹ đẻ của bị cáo. Chị V không biết việc bị cáo sử dụng để phạm tội do vậy cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả chiếc xe trên cho chủ sở hữu Mào Thị Vui là đúng quy định.
Đối với người đàn ông tên NG đã bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết lai lịch của người này nên không có cơ sở để điều tra làm rõ. HĐXX không xem xét giải quyết trong cùng vụ án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Mào Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249, khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Mào Văn T 05 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 29/9/2020.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong vật chứng của cơ quan CSĐT bên ngoài có ghi vật chứng còn lại vụ Mào Văn T, bên trong có: 0,112 gam Heroine còn lại sau khi trích mẫu giám định; 01 mảnh giấy bạc màu vàng trắng, 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện MC và Chi cục Thi hành án dân sự huyện MC, tỉnh Điện Biên ngày 04/11/2020).
3. Về án phí:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136/BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Mào Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 19/11/2020).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo những vấn đề có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện MC - Nhà tạm giữ CA huyện MC - Cơ quan THAHS huyện MC - CQ CSĐT CA huyện MC - Chi cục THADS huyện MC - Bị cáo; Người có QL,NV LQ - Phòng KTNV TA tỉnh Điện Biên; - VKS tỉnh Điện Biên; - Sở tư pháp tỉnh Điện Biên; - CA tỉnh Điện Biên; - UBND xã Lay Nưa – TX ML; - Lưu | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Tiến Hưng |