- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn H phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự Bị T; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự Bị T; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MƯỜNG LAY | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 02/2020/HS-ST Ngày: 18/11/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MƯỜNG LAY, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Điêu Văn Sáng
Bà Nguyễn Thị Thanh Mai
- Thư ký phiên toà: Ông Thiều Tất Lơ - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Hoàng Công Chẩn - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2020 tại Nhà sinh hoạt cộng đồng bản Na Ka, xã Lay Nưa, thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2020/TLST- HS ngày 13 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2020/QĐXXST- HS ngày 06 tháng 11 năm 2020 đối với Bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1977 tại thị xã ML, tỉnh ĐB; Nơi cư trú: Số nhà 41, tổ dân phố 4, phường NL, thị xã ML, tỉnh ĐB; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): Không; Con ông: Khoàng Văn S (đã chết) và con bà: Lò Thị T – Sinh năm 1957; Bố dượng: Ông Lò Văn T (Đã chết); có vợ là Điêu Thị P, sinh năm: 1978; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1999 con nhỏ sinh năm 2006; Tiền sự: Không; Tiền án: Không. Nhân thân: Chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị Tòa án xét xử.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/8/2020 sau đó chuyển sang tạm giam cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 08 giờ 45 phút ngày 30/8/2020 tổ công tác Công an thị xã ML đi làm nhiệm vụ tại số nhà 41, tổ dân phố 4, phường NL, thị xã ML đã phát hiện bắt quả tang tại phòng tắm Lò Văn H đang có hành vi tàng trữ 01 gói chất bột màu trắng được gói bằng giấy bạc màu vàng có khối lượng là 0,19 gam.
Quá trình điều tra Lò Văn H khai nhận nguồn gốc gói chất bột màu trắng bị thu giữ là Heroine do H mua được của một người đàn ông dân tộc Thái khoảng 40 tuổi (không biết tên và địa chỉ) vào đêm ngày 29/8/2020 khi H đang đi đánh cá ở khu vực hồ NL thuộc tổ dân phố 3, phường SĐ, thị xã ML với giá 100.000 đ (Một trăm nghìn đồng), mục đích để sử dụng cho bản thân. Sau khi mua được H cầm gói Heroine đi bộ về nhà cất giấu vào giỏ đựng xà phòng treo trên tường trong phòng tắm nhà Bị cáo. Đến 08 giờ 45 phút ngày 30/8/2020 H mang gói Heroine ra chuẩn bị sử dụng thì bị lực lượng Công an bắt giữ cùng toàn bộ vật chứng.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 30/8/2020 đã xác định như sau: Số chất bột màu trắng nghi Heroine của Lò Văn H có khối lượng là 0,19 gam, trích gửi giám định 0,08 gam không hoàn lại mẫu vật. Vật chứng còn lại 0,11gam.
Tại bản kết luận giám định số 833/GĐ-PC09 ngày 09/9/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Lò Văn H gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 9, Mục IA, Danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018.
Tại bản cáo trạng số 11/CT-VKSML ngày 13/10/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mường Lay truy tố bị cáo Lò Văn H về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo: Từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với Bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy gồm: 0,11 gam Heroine là vật chứng còn lại của vụ án.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc Bị cáo chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận, hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng và luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mường Lay.
Lời nói sau cùng của Bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo Lò Văn Hoà không có ý kiến gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi phạm tội của Bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn Hoà khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng; Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung, biên bản ghi lời khai, bản tự khai có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với Bị cáo, có đủ cơ sở khẳng định: Hồi 08 giờ 45 phút ngày 30/8/2020 tại số nhà 41, tổ dân phố 4, phường NL, thị xã ML, tỉnh ĐB, Lò Văn H đã có hành vi cất giấu trái phép tại nơi ở của Bị cáo 0,19 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Nguồn gốc số Heroine bị thu giữ là do H mua của một người đàn ông dân tộc Thái khoảng 40 tuổi (không biết tên và địa chỉ) với số tiền 100.000 đ (Một trăm nghìn đồng). Hành vi của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, vi phạm pháp luật. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi nêu trên của Bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
…
c) Heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;"
Từ những phân tích trên, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Lò Văn H về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Về tính chất của vụ án: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Chính vì vậy Bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với Bị cáo để giáo dục Bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:
Tình tiết tăng nặng: Bản thân Bị cáo không có tình thiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại thị xã ML, tỉnh ĐB. Bị cáo không đi học mà ở nhà phụ giúp gia đình từ năm 1989 tại bản XĐ, phường NL, thị xã ML, tỉnh ĐB. Năm 1995 lấy vợ là chị Điêu Thị P và có 02 người con, con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2006. Bị cáo nghiện ma túy từ đầu năm 2020 cho đến ngày bị bắt.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính Bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Nhưng xét thấy Bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, bị cáo là lao động tự do không có thu nhập ổn định, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên không có khả năng thi hành. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo.
Đề nghị của Kiểm sát viên: Xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt đối với bị cáo từ 15 tháng đến 18 tháng tù, Hội đồng xét xử thấy là phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo nên cần chấp nhận.
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
Về xử lý vật chứng: Gói Heroine bị thu giữ của bị cáo là 0,19 gam, đã trích gửi giám định không hoàn lại 0,08 gam, vật chứng còn lại là 0,11 gam là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
Các vấn đề khác: Bị cáo khai nguồn gốc số ma túy Cơ quan điều tra thu giữ do Bị cáo mua của một người đàn ông dân tộc Thái khoảng 40 tuổi (không biết tên, tuổi, địa chỉ) ở khu vực hồ NL thuộc tổ dân phố 3, phường SĐ, thị xã ML, quá trình điều tra không xác minh, làm rõ được. Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát không đề cập nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 buộc Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn H phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Xử phạt Bị cáo: 01(Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (Ngày 30/8/2020).
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
* Tịch thu tiêu hủy: 0,11 gam Heroine là vật chứng còn lại của vụ án (Vật chứng còn lại được đựng trong một phong bì công văn của Công an thị xã Mường Lay được niêm phong, các mép đều được dán kín).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/10/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Mường Lay và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHÊN TÒA
- Nhà tạm giữ CATX Mường Lay;
- VKSND thị xã Mường Lay; -VKSND tỉnh Điện Biên;
- CQCSĐT CATX Mường Lay;
- Hồ sơ THA hình sự;
(Đã ký đóng dấu)
- Chi cục THADS thị xã Mường Lay;
- Toà án ND tỉnh Điện Biên;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Sở tư pháp;
Nguyễn Thị Yên
- Lưu VP. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Yên
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Nhà tạm giữ CATX Mường Lay; -VKSND thị xã Mường Lay; -VKSND tỉnh Điện Biên; - CQCSĐT CATX Mường Lay; - Hồ sơ THA hình sự; - Chi cục THADS thị xã Mường Lay; - Toà án ND tỉnh Điện Biên; - Lưu hồ sơ vụ án; - Sở tư pháp; - Lưu VP. 3. Về án phí: 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHÊN TÒA Nguyễn Thị Yên Áp dụng Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự Bị T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHÊN TÒA Trần Thị Tố Loan |