- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tạ Thanh T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2020/HS-ST Ngày 14 -01- 2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Lanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Kim Minh; Ông Nguyễn Huy Long
Thư ký phiên toà: Ông Lương Thế Trung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Phạm Ngọc Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 01 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 138/2019/TLST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2020/QĐXXST- HS ngày 02 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo.
Họ và tên: Tạ Thanh T - Sinh ngày 28 tháng 8 năm 1994 tại thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
Nơi cư trú: Tổ 29 (tổ 30 cũ), phường P, thành phố L, tỉnh Lào Cai;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tạ Thanh Y và bà Lê Thị B. Bị cáo chưa có vợ, con;
Tiền án, tiền sự: Không
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/11/2019 hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công thành phố Lào Cai. “Có mặt”.
- Người chứng kiến: Bà Vũ Thị N - Nơi cư trú: Tổ 24A, phường P, thành phố L, tỉnh Lào Cai “Vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 25/11/2019, Tạ Thanh T đang ngồi tại quán nước khu vực ga Phố Mới thì thấy một người đàn ông tên Thành là người mà T biết trước đó nhưng không biết tuổi, đia chỉ đi qua. Tạ Thanh T mời Thành vào ngồi uống nước cùng, quá trình nói chuyện, Thành biết T sử dụng ma túy đá nên đã cho T một túi ni lon màu trắng, bên trong chứa các hạt tinh thể rắn, màu trắng để T sử dụng. T biết đó là ma túy đá nên đã cầm và cất giấu vào túi quần phía sau bên trái đang mặc, sau đó T đi về nhà. Đến khoảng 17 giờ 50 phút ngày 28/11/2019, T mặc chiếc quần có để ma túy đá một mình đi bộ tới nhà nghỉ 520 thuộc tổ 24a, phường Phố Mới, thành phố Lào Cai thì bị tổ công tác Công an thành phố Lào Cai phát hiện bắt quả tang cùng toàn bộ tang vật.
Tại Kết luận giám định số 10/GĐMT ngày 05/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: 0,30(không phẩy ba mươi) gam các hạt tinh thể rắn, màu trắng gửi giám định là loại chất ma túy Methamphetamine.
Tại phiên tòa bị cáo Tạ Thanh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Cáo trạng số 02/CT-VKS ngày 26/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo Tạ Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai giữ quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh theo bản cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất mức độ thực hiện hành vi của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Tạ Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, xử phạt bị cáo với mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Không phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định; Tạm giữ để đảm bảo thi hành án 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia, đen trắng màu xanh, số IMEI: 353664/05/753536/7.
Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Lào Cai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo Tạ Thanh T: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận tội do bị cáo là người nghiện ma túy nên khoảng 15 giờ ngày 25/11/2019 tại quán nước khu vực ga Phố Mới, Tạ Thanh T được một người đàn ông tên Thành cho một gói ma túy đá để sử dụng. Đến khoảng 17 giờ 50 phút ngày 28/11/2019, Tạ Thanh T mặc chiếc quần có để gói ma túy đá đi bộ tới nhà nghỉ 520 thuộc tổ 24a, phường Phố Mới, thành phố Lào Cai thì bị tổ công tác Công an thành phố Lào Cai phát hiện bắt quả tang cùng toàn bộ tang vật.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người chứng kiến, tang vật thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Theo kết luận giám định khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ để sử dụng là 0,30 gam Methamphetamine. Như vậy, với hành vi và số lượng ma túy như trên có đủ cơ sở để kết luận bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương, vì vậy cần phải xét xử bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải, bị cáo có ông ngoại được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba, ông nội được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất vì vậy cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy đinh tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm 5.000.000 đến 500.000.000 đồng...”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa bị cáo là người lao động tự do, là người nghiện ma túy nên không có thu nhập gì. Vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ 0,30 gam chất ma túy Methamphetamine sau khi trích mẫu giám định số ma túy còn lại cần tịch thu tiêu hủy; Tạm giữ để đảm bảo thi hành án 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia, đen trắng màu xanh, số IMEI: 353664/05/753536/7.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Tạ Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý’’. Xử phạt bị cáo Tạ Thanh T 01 (Một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/11/2019.
2. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 0,23 gam chất ma túy Methamphetamine được tái niêm phong bằng bì thư in sẵn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai, trên mặt bì thư có ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu trong vụ Tạ Thanh T có hành vi phạm tội về ma túy. Phát hiện, thu giữ ngày 28 tháng 11 năm 2019 tại khu vực tổ 24a, phường Phố Mới, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai”.
Tạm giữ của bị cáo Tạ Thanh T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, đen trắng màu xanh, số IMEI: 353664/05/753536/7 để đảm bảo thi hành án.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Tạ Thanh T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh, TP; - Cơ quan ĐT Công an TP; - Nhà tạm giữ; - Sở tư pháp; - Bị cáo; - T.H.A 2; - Lưu | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Tuyết Lanh |