- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2020/HS-ST Ngày: 05/11/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Văn Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Văn Cần;
Bà Lò Thị Thu Hằng.
- Thư ký phiên toà: Ông Giang Tiến Hiệp - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Bà Lò Thị Kẻo - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 11 năm 2020 tại Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2020/TLST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2020/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Văn T, tên gọi khác: Không; sinh năm 1970.
Nơi cư trú: Tổ dân phố x, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu.
Chỗ ở hiện nay: Bản C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12. Con ông: Hoàng Khắc D, (đã chết). Con bà: Lê Thị N, sinh năm 1934. Gia đình bị can có 9 anh em, bị cáo là con thứ 8 trong gia đình. Vợ, con: Bị cáo không có vợ, con.
Tiền án: Bị cáo có 06 tiền án:
+ Năm 1996 bị cáo bị Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp tài sản”;
+ Năm 2001 bị Toà án nhân dân huyện Than Uyên xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
+ Năm 2006 bị Toà án nhân dân huyện Than Uyên xử phạt 6 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”;
+ Năm 2012 bị Toà án nhân dân huyện Tân Uyên xử phạt 10 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”;
+ Ngày 27/9/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên áp dụng điểm p, khoản 2 Điều 194; điểm p, khoản 1, Điều 46; Điều 33 xử phạt 10 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
+ Ngày 27/9/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng Điều 55, 56 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt của bản án số 47/2016/HSST ngày 27/9/2016 của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu. Bị cáo phải thi hành 25 (hai mươi lăm) năm 03 (ba) tháng 13 (mười ba) ngày tù. Hiện đều chưa được xóa án tích.
Tiền sự: Không có.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 05/7/2020, ngày 08/7/2020 bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu. (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Hoàng Văn S, sinh năm 1964
Nơi cư trú: Tổ Dân phố x, Thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu.(Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 05/7/2020, Hoàng Văn T, điều khiển xe mô tô BKS: 25F1 - 2437, nhãn hiệu YAMAHA, loại xe: Nữ, màu sơn: Đỏ đi từ nhà ở bản C, thị trấn T, huyện T xuống khu vực bản Noong Thăng, xã Phúc Than, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu để tìm mua Heroine sử dụng thỏa mãn cơn nghiện. Khi đi đến bản Noong Thăng, T gặp một người đàn ông dân tộc Mông (không rõ nhân thân lai lịch), qua trao đổi nói chuyện, T hỏi “Có hàng bán không?” (tức là có Heroine bán không?), người đàn ông này trả lời “Không có, thế lấy nhiều hay lấy ít, tao đi lấy hộ cho”, T trả lời: “Lấy một triệu” (Một triệu đồng), người này nói tiếp “Thế trả tiền công cho tao hai trăm” T đồng ý. Sau đó người đàn ông này hẹn T lên khu vực hồ Noong Thăng đợi. T lên khu vực hồ Noong Thăng đợi một lúc thì người đàn ông này đến thì T đưa cho người này số tiền 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng), trong đó 1.000.000 đồng là tiền mua Heroine còn 200.000 đồng trả tiền công đi mua hộ Heroine. Người đàn ông này cầm lấy tiền đồng thời đưa cho T 01 gói Heroine bên ngoài gói bằng mảnh nilon màu hồng. Sau khi mua được Heroine T cất giấu vào ống tay áo bên phải đang mặc rồi điều khiển xe quay về nhà, còn người đàn ông dân tộc Mông bán Heroine cho T đi đâu T không rõ. Khi T về đến khu vực bản Chom Chăng, xã Thân Thuộc, huyện Tân Uyên thì bị lực lượng Công an huyện Tân Uyên phát hiện, bắt quả tang và thu giữ của T 01 gói Heroine bên ngoài gói bằng mảnh nilon màu hồng có khối lượng 0,89 gam và 01 xe mô tô BKS: 25F1 - 2437, nhãn hiệu YAMAHA, loại xe: Nữ, màu sơn: Đỏ, xe đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong.
Cùng ngày Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Tân Uyên đã tiến hành thành lập hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu vật giám định và niêm phong vật chứng. Kết quả: 01 gói Heroine bên ngoài được gói bằng mảnh nilon màu hồng có khối lượng là 0,89 gam.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Uyên đã trích 0,19 gam chất bột khô, màu trắng của Hoàng Văn T theo T khai là Heroine gửi giám định, còn lại 0,7 gam.
Tại kết luận giám định số 234/GĐ-KTTH ngày 28/5/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: “Mẫu chất bột, màu trắng thu giữ của Hoàng Văn T gửi giám định là ma túy, loại: Heroine”.
Vật chứng của vụ án: 0,89 gam Heroine, đã trích 0,19 gam Heroine thu giữ của Hoàng Văn T gửi giám định, còn lại 0,7 gam; 01 mảnh nilon màu hồng đây là mảnh nilon dùng để gói Heroine và 01 chiếc xe mô tô BKS: 25F1 - 2437, nhãn hiệu YAMAHA, loại xe: Nữ, màu sơn: đỏ, xe đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên là tài sản hợp pháp của anh Hoàng Văn S, trú tại Tổ dân phố x, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu. Việc T sử dụng chiếc xe mô tô trên để thực hiện hành vi phạm tội anh S không biết. Ngày 15/8/2020, Cơ quan CSĐT Công an huyện Tân Uyên đã tiến hành trả lại chiếc xe trên theo Quyết định xử lý vật chứng số 30 cho anh Hoàng Văn S.
Tại bản cáo trạng số: 57/CT-VKS-TU, ngày 16/10/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận điều tra và bản cáo trạng nêu trên.
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên giữ nguyên quan điểm truy tố của mình đồng thời phân tích, đánh giá toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 56 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Văn T từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù. Tổng hợp bản án số: 38/2018/HSST. Ngày 27/9/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, xử phạt bị cáo 25 (hai mươi lăm) năm 03 (ba) tháng 13 (mười ba) ngày tù. Buộc bị cáo phải chấp hành cả hai bản án 30 năm tù. Khấu trừ thời gian tạm giữ đối với bị cáo.
Miễn áp dụng hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo, vì bị cáo không có tài sản gì đáng giá và không đảm nhiệm chức vụ gì.
Vật chứng còn lại sau giám định: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:
Tịch thu tiêu hủy 0,7 gam Heroine; 01 mảnh nilon màu hồng.
Ngoài ra vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết về án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Hoàng Văn T thừa nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Hồi 17 giờ 30 phút ngày 05/7/2020, tại bản Chom Chăng, xã Thân Thuộc, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu, Hoàng Văn T đang tàng trữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,89 gam, mục đích để sử dụng thì bị Công an huyện Tân Uyên phát hiện, bắt quả tang.
Bị cáo Hoàng Văn T là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo ý thức được điều đó nhưng vẫn cố ý tàng trữ trái phép chất ma túy để thỏa mãn nhu cầu bản thân. Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định hành vi của bị cáo Hoàng Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích
mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05
năm đến 10 năm:
o) Tái phạm nguy hiểm”.
Vì vậy, quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo sinh ra và lớn lên được bố, mẹ nuôi dưỡng cho đi ăn học hết lớp 9 sau đó bị cáo nghỉ ở nhà phụ giúp gia đình. Bị cáo chưa có vợ, con. Bị cáo có 6 tiền án chưa được xóa án tích. Đến ngày 05/7/2020 bị cáo bị bắt quả tang sau đó bị khởi tố về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 6 tiền án đều chưa được sóa án tích:
+ Năm 1996 bị cáo bị Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp tài sản”;
+ Năm 2001 bị Toà án nhân dân huyện Than Uyên xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
+ Năm 2006 bị Toà án nhân dân huyện Than Uyên xử phạt 6 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”;
+ Năm 2012 bị Toà án nhân dân huyện Tân Uyên xử phạt 10 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”;
+ Ngày 27/9/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên áp dụng điểm p, khoản 2 Điều 194; điểm p, khoản 1, Điều 46; Điều 33 xử phạt 10 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
+ Ngày 27/9/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng Điều 55, 56 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt của bản án số 47/2016/HSST ngày 27/9/2016 của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu. Bị cáo phải thi hành 25 (hai mươi lăm năm) 03 (ba) tháng 13 (mười ba) ngày tù. Hiện đều chưa được xóa án tích.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có một mức án phù hợp, tương xứng với hành vi của bị cáo đã gây ra và cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo cải tạo, giáo dục mình thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo khó khăn về kinh tế, không có tài sản riêng gì. Do đó Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng còn lại sau giám định, gồm: 01 Bì thư làm bằng bì thư của Công an huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu bên trong đựng 0,7 gam Heroine; 01 mảnh nilon màu hồng là vật Nhà nước cấm lưu hành, vật không có giá trị.
Những vấn đề có liên quan: Về nguồn gốc Heroine bị cáo Hoàng Văn T khai mua của người đàn ông dân tộc Mông không rõ nhân thân lai lịch tại bản Noong Thăng, xã Phúc Than, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu. Quá trình điều tra không xác định được nên không có căn cứ để điều tra xử lý.
Đối với anh Hoàng Văn S là người cho T mượn xe mô tô, quá trình điều tra S không biết T dùng xe vào việc phạm tội nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý là đúng quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 56; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 05 (năm) tù. Tổng hợp bản án số: 38/2018/HSST Ngày 27/9/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, xử phạt bị cáo 25 (hai mươi lăm) năm 03 (ba) tháng 13 (mười ba) ngày tù. Bị cáo phải chấp hành hình phạt hai bản án là 30 ( ba mươi ) năm tù. Khấu trừ thời gian tạm giữ 03 (ba) ngày, bị cáo phải chấp hành hình phạt còn lại 29 (hai mươi chín) năm 11 (mười một) tháng 27 (hai mươi bảy) ngày tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành bản án.
Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 Bì thư làm bằng bì thư của Công an huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu bên trong đựng 0,7 gam Heroine; 01 mảnh nilon màu hồng là vật Nhà nước cấm lưu hành, vật không có giá trị.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 09 giờ ngày 20 tháng 10 năm 2020 giữa cơ quan CSĐT – Công an huyện Tân Uyên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Uyên).
4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày. Kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết lên tòa án cấp trên.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lai Châu (01 bản); - VKSND tỉnh Lai Châu (01 bản); - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu (01 bản); - VKSND huyện Tân Uyên (01 bản); - Chi Cục THADS huyện Tân Uyên (01 bản); - Công an huyện Tân Uyên (02 bản); - Bị cáo (01 bản); - Người có QL,NVLQ (01 bản); - Lưu HSVA (01 bản). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Văn Thanh |