vanban.org

Bản án 02/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình Tuyên án 03/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Chu Văn L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Xử phạt bị cáo Chu Văn L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 12/11/2019. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chu Văn L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Chu Văn L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIẾN XƯƠNG
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2020/HS-ST
Ngày 25 – 02 – 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lý

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Đức Bường

2. Bà Đoàn Thị Duyên

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Huế - Thư ký Toà án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quang Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2020/TLST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2020/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2020 đối với:

Bị cáo Chu Văn L, sinh năm 1975.

Nơi cư trú: Thôn Đ 2, xã T, huyện Ti, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chu Văn C sinh năm 1940 và bà Trần Thị R sinh năm 1942; có vợ là Nguyễn Thị Đ và có 02 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2003.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị tạm giữ từ ngày 12/11/2019 đến ngày 15/11/2019 chuyển tạm giam đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình; (có mặt)

- Người chứng kiến:

+ Ông Bùi Xuân H, sinh năm: 1949 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn V, xã B, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

+ Ông Bùi Xuân M, sinh năm: 1949 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Đông Th, xã B, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do mắc nghiện ma túy nên khoảng 14 giờ 30 phút ngày 12/11/2019, Chu Văn L đi một mình từ nhà đến khu vực cầu Ngái, thuộc Thôn Đ, Xã B, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình để tìm mua ma túy. Tại đây, Lượng gặp và mua của một người đàn ông khoảng 45 tuổi, không quen biết 01 gói ma túy với giá 300.000 đồng. Lượng cầm gói ma túy trong lòng bàn tay phải, sau đó đi bộ sang bên đường đứng chờ đón xe để về nhà. Đến khoảng 15 giờ 20 phút cùng ngày, Lượng bị Công an huyện Kiến Xương nghi ngờ có biểu hiện liên quan đến tội phạm ma túy nên tiến hành kiểm tra. Trước sự chứng kiến của ông Bùi Xuân H, ông Bùi Xuân M, tổ công tác Công an huyện Kiến Xương đã thu giữ tại lòng bàn tay phải Lượng đang cầm 01 gói được gói bằng giấy trắng mềm bên trong chứa 02 gói ma túy mà bên ngoài đều quấn bằng băng dính màu đen, lượt tiếp theo gói bằng nilong màu đen, bên trong gói bằng giấy tráng kim màu trắng, trong cùng chứa chất bột màu trắng dạng cục. Lượng khai nhận đó là ma túy của Lượng vừa mua về mục đích sử dụng cho bản thân. Công an huyện Kiến Xương lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản quản lý và niêm phong gói ma túy trên.

Tại bản Kết luận giám định số 419/KLGĐ-PC09 ngày 13/11/2019 Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: “Mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Hêrôin), khối lượng 0,2369gam” (Không phẩy hai nghìn ba trăm sáu mươi chín gam).

Bản cáo trạng số 05/CT-VKSKX ngày 14/01/2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình để xét xử đối với Chu Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Chu Văn L khai nhận toàn bộ hành vi như mô tả ở trên. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương giữ nguyên quan điểm đã truy tố trong bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Chu Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo Chu Văn L mức án từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về việc xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy 0,1812 gam Hêrôin còn lại sau giám định và bao gói.

Bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương đã truy tố. Tại phiên tòa bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội cải tạo, sớm trở thành người công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Kiến Xương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Tại phiên toà bị cáo Chu Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng.

Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng các chứng cứ sau đây:

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện Kiến Xương lập hồi 15 giờ 25 phút ngày 12/11/2019 (Bút lục số 01-02)

- Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Kiến Xương lập ngày 12/11/2019 (Bút lục số 04).

- Kết luận giám định số 419/KLGĐ – PC09 ngày 13/11/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Bình (Bút lục số 09).

- Lời khai của những người chứng kiến: Ông Bùi Xuân H và ông Bùi Xuân M.

Từ những căn cứ nêu trên có đủ cơ sở để kết luận: Vào hồi 15 giờ 20 phút ngày 12/11/2019, tại khu vực cầu Ngái thuộc Thôn Đ, Xã B, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, bị cáo Chu Văn L đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,2369 gam ma túy loại Hêrôin với mục đích sử dụng cho bản thân.

Hành vi trên của Chu Văn L đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo thấy: hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý chất gây nghiện của nhà nước, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội, đi ngược lại với cuộc đấu tranh bài trừ tệ nạn ma túy của nhà nước. Bản thân bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi do mình thực hiện nhưng vẫn cố ý phạm tội. Vì vậy cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Các vấn đề khác:

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Bị cáo Chu Văn L khai mua của một người đàn ông khoảng 45 tuổi không quen biết tại khu vực cầu Ngái, thuộc Thôn Đ, Xã B, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không xác định được người bán ma túy cho Chu Văn L nên không có căn cứ để xử lý.

Về xử lý vật chứng: Theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

0,1812 gam Hêrôin còn lại sau giám định và bao gói thu giữ của bị cáo Chu Văn L là vật cấm tàng trữ, lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo Chu Văn L phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Tuyên bố: Bị cáo Chu Văn L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Xử phạt bị cáo Chu Văn L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 12/11/2019.

2.Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy số Hêrôin thu giữ của Chu Văn L được Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình hoàn lại sau giám định là 0,1812 gam và bao gói được niêm phong trong phong bì bên ngoài ghi số 419/KLGD.

(Vật chứng trên có đặc điểm mô tả như trong Biên bản giao nhận vật chứng đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiến Xương ngày 15/01/2020).

3. Về án phí: Bị cáo Chu Văn L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 25/02/2020.

Cỡ chữ