vanban.org

Bản án 02/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 29/04/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thái S phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

Xử phạt : Bị cáo Phạm Thái S 30 (Ba mươi) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án 29/4/2020. giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân thị trấn Bình Liêu, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh phối hợp với gia đình bị cáo, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thái S - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thái S phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH LIÊU
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2020/HS-ST
Ngày 29-4-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH LIÊU, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Hải

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lô Đức Thuận

Bà Sái Thị Kim Lan

- Thư ký phiên tòa: Ông Lục Văn Biên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Thượng - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2020 tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 02/2020/TLST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2020/QĐXXST- HS ngày 09 tháng 3 năm 2020 và thông báo mở lại phiên tòa ngày 17 tháng 4 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Thái S (tên gọi khác: Không); Sinh ngày: 01 tháng 3 năm 1988 tại huyện B, tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: khu B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn T, sinh năm: 1938 (đã chết) và bà Đinh Thị L, sinh năm: 1944; Có vợ là Nguyễn Thị L, sinh năm 1989, có 01 con sinh năm 2019; Tiền án: không; Tiền sự: không. Bị bắt tạm giam từ ngày 10/12/2019 đến ngày 03/01/2020 thay đổi biện pháp ngăn chặn Bảo Lĩnh. Hiện tại ngoại tại nơi cư trú. Có mặt.

- Người bị hại: Ông Hà Ngọc T, sinh năm 1942; Nơi cư trú: thôn T, xã V, huyện B, tỉnh Quảng Ninh có đơn xin xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Hà Văn S, sinh năm: 1978; Trú tại: thôn T, xã V, huyện B, tỉnh Quảng Ninh có đơn xin xử vắng mặt.

+ Chị Nguyễn Thị L, sinh năm: 1989; Trú tại: khu B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ninh có mặt.

Người làm chứng:

+ Chị Phạm Thị Y, sinh năm: 1988; Trú tại: Khu B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ninh vắng mặt.

+ Anh Nguyễn Văn B, sinh năm: 1988; Trú tại: Khu B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ninh vắng mặt.

+ Anh Trần A M, sinh năm: 1996; Trú tại: thôn K, xã H, huyện B, tỉnh Quảng Ninh vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Thái S không có giấy phép lái xe ô tô theo quy định. Khoảng 07 giờ 45 phút ngày 06/10/2019 S điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Mazda3 biển kiểm soát 14A – 39453, ngồi trong xe có chị Nguyễn Thị L và cháu Phạm Trung H (là vợ và con của S), đi từ nhà ở khu B, thị trấn B, huyện B đến Trung tâm y tế huyện T để khám bệnh cho cháu H. Đến 8 giờ cùng ngày khi S điều khiển xe đi đến Km 25 + 420 quốc lộ 18C, thuộc thôn T, xã V, huyện B, S thấy có 03 xe mô tô đi phía trước cùng chiều, trong đó có xe mô tô nhãn hiệu Detech Espero biển kiểm soát 14AP – 000.33 do ông Hà Ngọc T, sinh năm 1942, trú tại: thôn T, xã V điều khiển. S điều khiển xe chuyển hướng sang phần đường bên trái để vượt các xe mô tô nêu trên thì cùng lúc này xe mô tô của ông T cũng ra tín hiệu xin đường và dần chuyển hướng xe, nhưng S vẫn điều khiển xe vượt lên thì phần đầu bên phải xe ô tô đã đâm va vào phía bên trái xe mô tô của ông T trên phần đường bên trái gây tai nạn. Hậu quả: ông T bị thương được mọi người đưa đi bệnh viện cấp cứu, xe mô tô bị hư hỏng.

Kết quả khám nghiệm hiện trường: Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là đường thẳng, mặt đường trải nhựa, lòng đường rộng 7,35m, có vạch sơn kẻ đứt quãng ở giữa lòng đường để phân chia hai chiều đường, lề đường bên trái rộng 3,68m; lề đường bên phải rộng 3,67m. Hiện trường được mô tả ở phần đường bên trái theo hướng Bình Liêu – Tiên Yên, thể hiện:

Vết phanh kích thước (110 x 16)cm, đầu vết phanh cách mép đường 2,28m, đến trục sau bên phải xe ô tô biển kiểm soát 14A – 39453 là 09m, từ trục sau bên phải xe ô tô đến mép đường 33cm, trục trước bên phải xe ô tô đến mép đường 85cm. Cuối vết phanh mép đường 1,95m và đến đầu vết cày xước thứ nhất là 4,14m; Vết cày xước dài 13,2m, đầu vết cày xước vào mép đường 2,7m, cuối vết cày xước trùng với đầu giá để chân trước bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 14AP – 00033 và cách mép đường là 2,73m. Từ đầu vết xước thứ nhất đến đầu vết xước thứ 2 là 2,56m; Vết cày xước thứ 2 dài 10,4m, rộng 0,5cm, đầu vết cày xước cách mép đường 1,58m, cuối vết cày xước cách mép đường 1,75m. Đầu vết cày xước thứ 2 cách tâm đám máu là 5,6m, kích thước đám máu (24 x 15)cm và nằm trên vạch sơn trắng ở mép đường bên trái. Xe mô tô biển kiểm soát 14AP – 00033 nằm đổ nghiêng sang phải. Trục trước cách mép đường 2,72m, cách trục trước bên phải xe ô tô biển kiểm soát 14A- 39453 là 7,25m; Trục sau xe mô tô cách mép đường 2,82m. Điểm cố định là cột mốc km25 + 400 cách trục sau xe mô tô là 19,66m (BL: 24, 25).

Kết quả khám các phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông thể hiện:

- Xe ô tô 14A – 394.53: phần đầu xe gồm: cụm đèn pha hai bên, ba đờ sốc trước, ốp tai bên phải, bình nước rửa kính bên phải, đầu nắp capo… bị nứt, vỡ, hỏng… góc dưới bên phải kính chắn gió trước có vết rạn nứt, vỡ bám dính vào một số sợi tóc (BL: 29, 30);

- Xe mô tô biển kiểm soát 14AP – 00033: Cánh yếm bên trái bị vỡ hỏng; đầu cần số trước, sau bị cong; giá để chân trước bên trái cong gập từ sau về trước, yên xe bên trái có vết rách kích thước 10 x 10cm; mặt ngoài ốp giảm sóc bên trái có vết nứt vỡ, mài xước; Đầu tay lái, giá để chân bên phải có dấu vết mài xước cao su, kim loại… (BL: 31, 32);

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 605/19/TgT ngày 21/11/2019 của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh Quảng Ninh kết luận thương tích của ông Hà Ngọc T gồm: Dập não thùy thái dương trái kích thước lớn nhất (13 x 08)mm, chảy máu màng mềm, tụ máu dưới màng cứng, không có di chứng về thần kinh: 31%; sẹo vùng đỉnh đầu 02%; tổn thương màng phổi và sẹo dẫn lưu khoang màng phổi: 04%; tổn thương nhu mô phổi phải: 08%; gãy xương sườn I, II, III, IV, V, VI, VII, IX bên phải 15%; Gãy đầu trên 02 xương cẳng chân trái, đường gãy lan vào mâm chày trái, hiện tại hạn chế vận động khớp gối trái, trái tầm vận động từ 0o đến 125o: 20% + 13%. Áp dụng phương pháp cộng lùi, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây lên hiện tại là 65% (Sáu mươi lăm phần trăm) (BL: 115 – 120).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 1004/KLĐG ngày 19/11/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bình Liêu kết luận giá trị tài sản bị hư hỏng của xe mô tô biểm kiểm soát 14AP – 00033 là 976.000 (Chín trăm bẩy mươi sáu nghìn đồng) (BL: 75).

Tại cơ quan điều tra Phạm Thái S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. S đã bồi thường đầy đủ theo thỏa thuận cho người bị hại là ông Hà Ngọc T số tiền 60.000.000đ (Sáu mươi triệu đồng). Ông T không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Phạm Thái S (BL: 121, 140, 191 – 195).

Đối với xe ô tô biển kiểm soát 14A – 39453 và xe mô tô biển kiểm soát 14AP – 00033 cùng các giấy tờ liên quan, ngày 23, 24/12/2019 Cơ quan điều tra đã trả cho chủ sở hữu hợp pháp (BL: 22, 23, 199).

Tại Bản cáo trạng số: 02/CT- VKS - BL ngày 16/02/2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Phạm Thái S về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát đưa ra các tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên nội dung truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố: bị cáo Phạm Thái S phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; Áp dụng: điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, khoản 1,2 và 5 điều 65 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Phạm Thái S: từ 30 tháng đến 36 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 60 tháng.

Tại phiên tòa bị cáo Phạm Thái S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Lời nói sau cùng: bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Cơ quan kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố cơ bản đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Quá trình tiến hành tố tụng không có ai khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng. Chứng cứ, tài liệu do Điều tra viên, Kiểm sát viên thu thập đều hợp pháp và đảm bảo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Kiểm sát viên đã thực hiện đầy đủ chức trách, nhiệm vụ, các hành vi tố tụng đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo Phạm Thái S đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với: Lời khai người làm chứng (BL: 122 – 125, 145 – 153); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (BL: 126 – 132, 196 - 197); người bị hại (BL: 133 – 135); Biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông (BL: 24 – 27); Sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông (BL: 28); Biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông (BL: 29 – 32); Bản ảnh hiện trường (BL: 33 – 37); Bản ảnh phương tiện ( BL: 38 – 48); Kết luận định giá tài sản (BL: 54, 57); Giấy chứng nhận thương tích (BL: 60); Bản kết luận giám định pháp y về thương tích, bản ảnh thương tích (BL: 115 – 120) và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 8 giờ ngày 06/10/2019, tại km 25 + 420 quốc lộ 18C đoạn thuộc thôn T, xã V, huyện B, tỉnh Quảng Ninh, Phạm Thái S không có giấy phép lái xe ô tô theo quy định, đã có hành vi điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 14A – 394-53 đi theo hướng Bình Liêu – Tiên Yên, do vượt xe không đúng quy định, không đảm bảo an toàn (vi phạm điều 14 Luật giao thông đường bộ về vượt xe) nên xe do S điều khiển đã đâm va vào xe mô tô biển kiểm soát 14AP – 00033 do ông Hà Ngọc T điều khiển đang đi phía trước cùng chiều, làm ông T bị thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 65% (Sáu mươi lăm phần trăm). Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” do bị cáo không có giấy phép lái xe theo quy định nên thuộc trường hợp tăng nặng định khung hình phạt quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Liêu đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.

[3] Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Thái S là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình, nhận thức được hậu quả của việc tham gia giao thông đường bộ không đúng quy định, nhưng vì coi thường pháp luật nên mặc dù không có giấy phép lái xe theo quy định, bị cáo vẫn điều khiển lái xe ô tô vượt xe không đúng quy định, không đảm bảo an toàn, hậu quả đã đâm va vào xe mô tô do ông Hà Ngọc T điều khiển gây thương tích 65% sức khỏe và gây thiệt hại về tài sản cho ông T. Hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

[5] Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đều có ý thức chấp hành pháp luật và các quy định tại địa phương nơi cư trú, thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã tự nguyện hòa giải,sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả đầy đủ cho người bị hại, được người bị hại xin miễn trách nhiệm hình sự hoặc giảm nhẹ hình phạt, gia đình bị cáo có bố và mẹ đều có công với cách mạng có thời gian tham gia kháng chiến và đều được đảng, nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn là lao động chính, có con còn nhỏ, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội với lỗi vô ý có khả năng tự cải tạo, và nếu không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy chưa cần thiết phải cách li bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 54, Điều 65 bộ luật hình sự xử bị cáo dưới khung hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương chịu sự giám sát của chính quyền địa phương nơi cư trú và gia đình với một thời gian thử thách nhất định cũng đảm bảo giáo dục bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo sửa chữa sai lầm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

[6] Về trách nhiệm dân sự : Quá trình điều tra, bị cáo đã thỏa thuận bồi thường xong cho người bị hại với số tiền 60.000.000đ (Sáu mươi triệu đồng). Tại phiên tòa người bị hại tuy vắng mặt nhưng có đơn xin xử vắng mặt và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với xe ô tô biển kiểm soát 14A-394.53 và xe mô tô biển kiểm soát 14AP-000.33 cùng các giấy tờ liên quan, ngày 23, 24/12/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả cho chủ sở hữu hợp pháp nên không đề cập đến.

[8] Về hình phạt bổ sung: xét thấy trước khi phạm tội bị cáo làm nghề lao động tự do, không có công việc ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định đối với bị cáo.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54; Khoản 1,2 và 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự; Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự,

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thái S phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

Xử phạt : Bị cáo Phạm Thái S 30 (Ba mươi) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án 29/4/2020. giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân thị trấn Bình Liêu, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh phối hợp với gia đình bị cáo, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. “Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

Căn cứ vào: khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Bị cáo Phạm Thái S phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ vào: Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ