- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vù Chẩn Th phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự, hình phạt: Tuyên bố bị cáo Vù Chẩn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:02/2020/HS-ST Ngày 28- 02- 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B - TỈNH LÀO CAI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Hưng.
Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Trần Thị Xuân.
- Ông Vàng Đình Vi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Bích Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Lĩnh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:02/2020/TLST-HS ngày 20/01/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:01/2020/QĐXXST-HS, ngày 12/02/2020 đối với bị cáo.
Họ và tên: Vù Chẩn Th; Tên gọi khác: không, sinh ngày 10 tháng 10 năm 1990, tại huyện B1, tỉnh Lào Cai; Nơi cư trú: Bản 5, xã Đ, huyện B1, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 09/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vù Seo S (đã chết) và bà Trần Thị H, sinh năm 1957; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị H, sinh năm 1992 (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2011; Tiền án: Không; Tiền sự: không; Nhân thân: tốt; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 15/12/2019, tạm giam từ ngày 18/12/2019. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Lào Cai - Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn H - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lào Cai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 15/12/2019, Th mượn xe mô tô HONDA Vision màu đen, biển kiểm soát 24B1-969.44 của Lê Phúc A sinh năm 1994, trú tại Bản 4, xã Đ, huyện B1, Th nói là đi đón bạn. Th gọi điện để mua ma túy thì có giọng một người đàn ông (không rõ lai lịch) nghe máy, Th hỏi “Anh có đồ không, bán cho em 300.000 đồng”, người nghe điện trả lời “Có” và bảo Th vào xã B, gặp thì giao ma túy; người bán ma túy hỏi thì Th trả lời là đi xe Vision màu đen. Sau khi thỏa thuận xong việc mua bán ma túy, Th điều khiển xe mô tô từ xã Đ, huyện B1 đến xã B, huyện B. Khoảng 18 giờ cùng ngày đến địa phận thôn Kh, xã B thì thấy có một người đàn ông đi xe mô tô ngược chiều nháy đèn xe, biết là người bán ma túy nên Th quay lại, hai xe đi chậm lại song song cùng chiều, Th đưa 300.000 đồng, người đàn ông kia đưa cho Th một vỏ bao thuốc lá màu vàng. Biết chắc là bên trong có ma túy, Th đã cất vào hốc đựng đồ phía trước, bên trái xe mô tô rồi đi về nhà thì bị bắt quả tang cùng tang vật. Quá trình bị bắt và sau khi được tổ công tác động viên, thuyết phục Th đã tự nguyện giao nộp một vỏ bao thuốc lá WHITE HORSE màu vàng, bên trong có 01 túi nilon màu trắng có mép kẹp chứa các tinh thể rắn màu trắng. Th khai nhận vừa mua ma túy ở xã B với giá 300.000 đồng về để sử dụng.
Tại bản kết luận giám định số 14/GĐMT ngày 17/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai xác định mẫu vật thu giữ của Vù Chẩn Th có trọng lượng 0,97 gam là chất ma túy Methamphetamine, thuộc danh mục II số thứ tự 323 Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Tại bản Cáo trạng số 02/CT-VKS-BH ngày 17/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Vù Chẩn Th về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai luận tội bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vù Chẩn Th phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Đề nghị xử phạt bị cáo Vù Chẩn Th từ 12 tháng đến 18 tháng tù giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu để tiêu hủy 0,73 gam Methamphetamine còn lại sau giám định; Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động OPPO F1S màu vàng bên trong có 01 sim viettel.
Người bào chữa cho bị cáo Vù Chẩn Th: Sau khi phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Đề nghị xử phạt bị cáo Vù Chẩn Th 12 tháng tù giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện B, tỉnh Lào Cai, Điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo Vù Chẩn Th: Tại phiên toà hôm nay bị cáo Vù Chẩn Th đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã được tóm tắt ở phần trên. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt quả tang, người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Vù Chẩn Th là người đạt độ tuổi và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo đã có hành vi tàng trữ bất hợp pháp 0,97 gam là chất ma túy Methamphetamine. Vì vậy, có đủ cơ sở khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Vù Chẩn Th về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Trực tiếp là hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Xâm phạm đến trật tự trị an ở địa phương, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng. Nên cần đưa bị cáo ra xét xử nghiêm minh trước pháp luật và tuyên mức án tương xứng với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để giáo dục cải tạo bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.
. Về tính chất mức độ hành vi, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, bố bị cáo được nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất. Do vậy, cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo qui định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
Bị cáo Vù Chẩn Th không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định, không có tài sản gì, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết rõ họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, không xác định được lý lịch người đàn ông đó nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B sẽ tiếp tục xác minh, khi nào xác định được đối tượng nêu trên, sẽ xem xét xử lý sau.
. Về vật chứng của vụ án:
- Đối với 0,73 gam Methamphetamine còn lại sau giám định đã được niêm phong bằng bì thư in sẵn của phòng KTHS Công an tỉnh Lào Cai, tại các mép dán của phong bì có chữ ký của hai bên giao nhận và dấu của phòng KTHS. Đây là tang vật của vụ án, không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu để tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F1S màu vàng, bên trong lắp 01 sim viettel, điện thoại cũ đã qua sử dụng đã thu giữ của bị cáo Vù Chẩn Th. Đây là điện thoại mà bị cáo dùng vào việc liên lạc để mua ma tuý. Do vậy cần tịch thu và nộp ngân sách nhà nước.
- Quá trình điều tra xác định xe mô tô biển kiểm soát 24B1-969.44 là của ông Lê Thanh T sinh năm 1957, trú tại Bản 4, xã Đ, huyện B1 cho con trai Lê Phúc A mượn để trông cửa hàng. Ông T và anh Lê Phúc A không biết Th mượn để thực hiện hành vi phạm tội. Quá trình điều tra xét thấy liên quan đến vụ án, nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu. Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp, nên không đề cập giải quyết.
+ 01 điện thoại di động Iphone 6Plus, màu vàng, máy cũ đã qua sử dụng, là của Vù Chẩn Th. Quá trình điều tra xét thấy liên quan đến vụ án, nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị cáo và giao cho người nhà quản lý. Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp, nên không đề cập giải quyết.
. Những chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội của Kiểm sát viên; bị cáo, người bào chữa cho bị cáo đều phù hợp và được Hội đồng xét xử chấp thuận.
Ý kiến của kiểm sát viên về đề nghị áp dụng hình hình phạt từ 12 tháng đến 18 tháng tù: Hội đồng xét xử thấy rằng, trọng lượng ma tuý bị cáo tàng trữ là 0,97 gam Methamphetamine, có 1 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 1 và 1 tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy áp dụng mức hình phạt khởi điểm theo khung hình phạt là phù hợp.
. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí vụ án hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1.Về trách nhiệm hình sự, hình phạt: Tuyên bố bị cáo Vù Chẩn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Vù Chẩn Th 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 15 tháng 12 năm 2019.
2. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu để tiêu hủy: 0,73 gam Methamphetamine được đựng trong 01 (một) phong bì in sẵn của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lào Cai, mặt trước có ghi: Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu trong vụ Vù Chẩn Th có hành vi phạm tội về ma túy. Phát hiện, thu giữ ngày 15 tháng 12 năm 2019 tại thôn K, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai. Tại các mép dán của bì niêm phong có chữ ký của hai bên giao nhận và 02 dấu tròn đỏ của phòng KTHS Công an tỉnh Lào Cai.
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F1S màu vàng, bên trong lắp 01 sim viettel.
(Các vật chứng trên được cơ quan điều tra chuyển cho Cục Thi hành án dân sự theo biên bản bàn giao ngày 17/01/2020).
3.Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Vù Chẩn Th phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo Bản án: Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận - TAND tỉnh Lào Cai; - VKSND tỉnh Lào Cai; - VKSND huyện B; - CQCSĐT CA huyện B; - CQTHAHS CA huyện B; - Sở tư pháp tỉnh Lào Cai; - PC 81 Công an tỉnh Lào Cai; - Phòng HSNV CA tỉnh Lào Cai; - Trại giam; - THA HS; - CCTHADS; - Bị cáo, NBC; - Lưu HS; TA; VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Quốc Hưng |