vanban.org

Bản án 02/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 9; 14; 15; 51; 53; 57; 58; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lý Diễm P. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận bà Lý Diễm P và ông Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Lý Diễm P yêu cầu được ly hôn với ông Lê Ngọc C"
  • Tòa quyết gì? tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 9; 14; 15; 51; 53; 57; 58; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 Về việc thi hành Luật Hôn nhân…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP TRÀ VINH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 20/01/2020
“V/v Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TRÀ VINH, TỈNH TRÀ VINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo Ngoan

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Trinh

2. Bà Thạch Thị Mỹ Kim

Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Cẩm Tú.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh không

tham gia phiên tòa.

Trong ngày 20 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố

Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 01/2020/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2020, về việc “Xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn số: 02/2020/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lý Diễm P, sinh năm 1972.

Địa chỉ: Khóm C, phường H, thành phố Trà V, tỉnh Trà Vinh.

- Bị đơn: Ông Lê Ngọc C, sinh năm 1970.

Địa chỉ: Số FA Khóm C, phường H, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.

Nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên

đơn bà Lý Diễm P trình bày và yêu cầu như sau:

Bà Lý Diễm P và ông Lê Ngọc C được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới

và chung sống như vợ chồng từ năm 1992 nhưng không có đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống ông bà có 02 con chung tên Lê Diễm P, sinh năm 1993 và Lê Văn K, sinh năm 1994 nay đã trưởng thành, không bị hạn chế về mặt tâm thần hay thể chất. Đến cuối năm 2018, ông bà phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, thường xuyên cải vã nên đã sống ly thân cho đến nay. Nhận thấy cuộc hôn nhân không thể cứu vãn, mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyên đơn yêu cầu được ly hôn với ông Lê Ngọc C theo thủ tục không công nhận ông bà là vợ chồng.

- Về con chung: Có 02 con chung tên Lê Diễm P, sinh năm 1993 và Lê Văn

K, sinh năm 1994 nay đã trưởng thành, không bị hạn chế về mặt tâm thần hay thể chất nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung: Nguyên đơn khai không có nên không yêu cầu Tòa án

xem xét giải quyết

- Về nợ chung: Nguyên đơn khai không có nên không yêu cầu Tòa án xem

xét giải quyết.

Do điều kiện tính chất công việc đi lại khó khăn nên nguyên đơn có đơn

yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Lê Ngọc C có bản tự khai và đơn yêu

cầu xét xử vắng mặt trình bày như sau:

Ông Lê Ngọc C thống nhất với nội dung đơn khởi kiện và toàn bộ yêu cầu

của nguyên đơn bà Lý Diễm P về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung. Ông bà được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới và chung sống như vợ chồng từ năm 1992 nhưng không có đăng ký kết hôn. Đến cuối năm 2018 ông bà phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, thường xuyên cải vã nên đã sống ly thân cho đến nay. Nhận thấy cuộc hôn nhân không thể cứu vãn, mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyên đơn bà Lý Diễm P yêu cầu được ly hôn với ông theo thủ tục không công nhận ông bà là vợ chồng thì ông thống nhất. Về con chung: Có 02 con chung tên Lê Diễm P, sinh năm 1993 và Lê Văn K, sinh năm 1994 nay đã trưởng thành, không bị hạn chế về mặt tâm thần hay thể chất nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Bị đơn khai không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Vì lý do tính chất công việc nên bị đơn không thể tham gia phiên tòa, yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh không

tham gia phiên tòa nên không có ý kiến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp

lệ để tham gia phiên tòa nhưng đều có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 227, 228, 320 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhận thấy:

Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Lý Diễm P và ông Lê Ngọc C

xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 1992 nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Trong quá trình chung sống ông bà thường xảy ra mâu thuẫn dẫn đến ly thân từ khoảng cuối năm 2018 cho đến nay. Nay bà Lý Diễm P yêu cầu được ly hôn với ông Lê Ngọc C thì ông C cũng thống nhất ly hôn theo yêu cầu khởi kiện của bà P. Tuy nhiên việc kết hôn của bà Lý Diễm P và ông Lê Ngọc C không được thực hiện theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình là phải được đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, do đó việc kết hôn giữa bà Lý Diễm P và ông Lê Ngọc C không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Căn cứ vào điểm b Khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội thì bà Lý Diễm P và ông Lê Ngọc C không được công nhận vợ chồng.

Về con chung: Nguyên đơn, bị đơn thống nhất khai có 02 con chung

tên Lê Diễm P, sinh năm 1993 và Lê Văn K, sinh năm 1994 nay đã trưởng thành, không bị hạn chế về mặt tâm thần hay thể chất nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Nguyên đơn, bị đơn thống nhất khai không có và

không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra giải quyết.

Về nợ chung: Nguyên đơn, bị đơn thống nhất khai không có và không

yêu cầu nên Tòa án không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 273; 318; 322 Bộ luật

tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 9; 14; 15; 51; 53; 57; 58; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lý Diễm P.

- Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận bà Lý Diễm P và ông

Lê Ngọc C là vợ chồng.

- Về con chung: Nguyên đơn, bị đơn thống nhất khai có 02 con chung tên

Lê Diễm P, sinh năm 1993 và Lê Văn K, sinh năm 1994 nay đã trưởng thành, không bị hạn chế về mặt tâm thần hay thể chất nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung: Nguyên đơn, bị đơn thống nhất khai không có nên không

yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết

- Về nợ chung: Nguyên đơn, bị đơn thống nhất khai không có nên không

yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn bà Lý Diễm P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn

nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng tại biên lai thu tiền số: 0006238 ngày 03 tháng 01 năm 2020 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Trà Vinh nên bà Phượng không phải nộp thêm.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời

hạn 07 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt thì được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án, phải thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ