vanban.org

Bản án 02/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tuyết N.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tuyết N được ly hôn với anh Phạm Văn T Về con chung: Giao con chung là cháu Phạm Nguyễn Thanh H sinh ngày 12/7/2007 cho chị Nguyễn Thị Tuyết N được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu H đủ 18 (mười tám) tuổi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tuyết N với bị đơn anh Phạm Văn T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tuyết N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ GIA NGHĨA
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 16-3-2020
V/v: Ly hôn và tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Quy.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Ất.

2. Bà Đỗ Thị Mau.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Thúy - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yến Như - Kiểm sát viên.

Ngày16 tháng 3 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 220/2019/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 9 năm 2019 về “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2020/QĐXX-ST ngày 13 tháng 02 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/QĐST-DS ngày 28 tháng 02 năm 2020, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm: 1980;

Nơi ĐKHKTT: Tổ 4, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.

Chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố 6, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông - vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Anh Phạm Văn T, sinh năm: 1981;

Nơi ĐKHKTT: Tổ 4, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.

Chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố 6, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông - vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tuyết N trình bày: Chị Nguyễn Thị Tuyết N và Phạm Văn T tự nguyện chung sống có đăng ký kết hôn ngày 31/01/2007 tại Uỷ ban nhân dân phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông. Trong quá trình chung sống giữa chị N và anh T thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn do anh T thường xuyên uống rượu, không lo làm ăn, thường xuyên xúc phạm chị N. Chị N và anh T có xô xát, tuy không gây thương tích nặng nhưng cũng ảnh hưởng đến tâm lý và sức khỏe của chị N. Giữa chị N và anh T đã sống ly thân nhau từ tháng 8 năm 2017 đến nay, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được.Trong thời gian sống ly thân chị N thuê nhà ra ngoài ở nhưng anh T không cấp dưỡng hay thăm nom chăm sóc con. Nay chị N xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Phạm Văn T.

Về con chung: Trong quá trình chung sống giữa chị Nguyễn Thị Tuyết N và anh Phạm Văn T có 01 con chung là Phạm Nguyễn Thanh H, sinh ngày 12/7/2007. Nguyện vọng của chị N là được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi cháu H đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Tuyết N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Phạm Văn T đã được Tòa án thông báo về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhưng anh T không có ý kiến gì; anh T từ chối nhận tất cả các văn bản của Tòa án tống đạt. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng đối với anh T theo quy định của pháp luật.

Cháu Phạm Nguyễn Thanh H sinh ngày 12/7/2007, là con chung của anh Phạm Văn T và chị Nguyễn Thị Tuyết N, cháu H xác định nếu bố mẹ ly hôn thì nguyện vọng được ở với mẹ Nguyễn Thị Tuyết N.

Tại phiên tòa, Tòa án đã triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tuyết N vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Phạm Văn T vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự,Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố G tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật: Từ thụ lý giải quyết vụ án cho đến thời điểm trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tuyết N thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự; bị đơn anh Phạm Văn T không chấp hành đúng theo yêu cầu, triệu tập của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án.

Về quan điểm giải quyết: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tuyết N.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tuyết N được ly hôn với anh Phạm Văn T.

Về con chung: Giao con chung là cháu Phạm Nguyễn Thanh H sinh ngày 12/7/2007 cho chị Nguyễn Thị Tuyết N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi cháu Hà đủ 18 (mười tám) tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Tuyết N không yêu cầu anh Phạm Văn Tuân cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Tuyết N không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tuyết N khởi kiện yêu cầu giải quyết vấn đề quan hệ hôn nhân và con chung nên Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; bị đơn anh Phạm Văn T cư trú tại tổ dân phố 6, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông. Vì vậy,Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Xét nội dung yêu cầu khởi kiện:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tuyết N và anh Phạm Văn T tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào ngày 31/01/2007 tại Uỷ ban nhân dân phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông đúng pháp luật. Quá trình chung sống, chị N và anh T thường xuyên mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, giữa chị N và anh T đã sống ly thân với nhau từ tháng 8 năm 2017 đến nay, không còn thương yêu, chăm sóc lẫn nhau.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh Phạm Văn T để giải quyết vụ án nhưng anh T đều vắng mặt không có lý do. Qua xác minh tại Công an phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông thì T hiện tại đang sinh sống tại tổ dân phố 6, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông. Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng nhưng anh T từ chối không nhận Tòa án không thể tống đạt trực tiếp nên đã niêm yết các văn bản tố tụng và triệu tập anh T đến Tòa án giải quyết vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con chung với chị Nguyễn Thị Tuyết N nhưng anh T đều vắng mặt không có lý do.

Tòa án đã tiến hành hòa giải để các đương sự đoàn tụ với nhau nhưng không thành do anh Phạm Văn T không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Tại phiên tòa, Tòa án đã triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng anh T vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử quyết định giải quyết vụ án và xét xử vắng mặt anh T theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và điểm b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Qua xác minh tại chính quyền địa phương và những người hàng xóm gần nhà chị Nguyễn Thị Tuyết N và anh Phạm Văn T thì cuộc sống hôn nhân của chị Nvà anh T không hạnh phúc, thường hay mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, chị Nvà anh T hiện tại đã sống ly thân với nhau.

Hội đồng xét xử xét thấy, giữa chị Nguyễn Thị Tuyết N và anh Phạm Văn T trong cuộc sống hôn nhân thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nhung theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định:

“Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được”.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Tuyết N và anh Phạm Văn T có 01 con chung là cháu Phạm Nguyễn Thanh H sinh ngày 12/7/2007. Hiện tại, cháu Phạm Nguyễn Thanh H đang sống với chị N. Chị Nyêu cầu Tòa án giải quyết giao con chung cho chị N được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi cháu H đủ 18 tuổi.

Qua xác minh về điều kiện nuôi con: Chị Nguyễn Thị Tuyết N đang công tác tại Trung tâm thí nghiệm điện Đắk Nông có thu nhập ổn định. Hiện tại cháu Phạm Nguyễn Thanh H đang sống với chị Nguyễn Thị Tuyết N. Nguyện vọng của cháu H nếu bố và mẹ ly hôn thì xin được ở với mẹ.

Xét thấy, chị Nguyễn Thị Tuyết N có nơi ở, công việc và thu nhập ổn định, đủ đảm bảo chăm lo tốt cuộc sống của cháu Phạm Nguyễn Thanh H. Để bảo đảm cho cháu H có cuộc sống tốt nhất Hội đồng xét xử cần giao cháu H cho chị N được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu Hà đủ 18 tuổi là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Tuyết N không yêu cầu anh Phạm Văn T cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Tuyết N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về giải quyết vụ án là có căn cứ, nên cần Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

Từ những phân tích và nhận định trên đây, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tuyết N.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tuyết N được ly hôn với anh Phạm Văn T.

Về con chung: Giao con chung là cháu Phạm Nguyễn Thanh H, sinh ngày 12/7/2007 cho chị Nguyễn Thị Tuyết N được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu H đủ 18 (mười tám) tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Tuyết N không yêu cầu anh Phạm Văn Tuân cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Tuyết N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Tuyết N phải chịu án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các điều 57,58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tuyết N.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tuyết N được ly hôn với anh Phạm Văn T

Về con chung: Giao con chung là cháu Phạm Nguyễn Thanh H sinh ngày 12/7/2007 cho chị Nguyễn Thị Tuyết N được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu H đủ 18 (mười tám) tuổi.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi dưỡng có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình; không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Tuyết N không yêu cầu anh Phạm Văn T cấp dưỡng nuôi con chung.

Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ đối với con có thể thay đổi và được thực hiện theo Điều 82, Điều 110 và Điều 118 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

2.Về án phí: Chị Nguyễn Thị Tuyết N phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lại thu tiền tạm ứng án phí số 0001265 ngày 24/9/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố G, tỉnh Đắk Nông.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ