vanban.org

Bản án 02/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện: Về việc “ Ly hôn” giữa chị Đặng Thị D đối với anh Đặng Xuân H.

Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ là vợ, chồng đối với chị Đặng Thị D và anh Đặng Xuân H. Về con chung và tài sản: Không có tài sản, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đặng Thị D và Đặng Xuân H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện: Về việc “ Ly hôn” giữa chị Đặng Thị D đối với anh Đặng Xuân H.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V
TỈNH H
—————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2020/HNGĐ-ST
Ngày 13 - 3 - 2020
V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Anh Luyện.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phùng Ngọc Tuấn.

2. Ông Đỗ Duy Toàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Nga – Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh H.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Quân – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 3 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 214/2019/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2019 về việc "Ly hôn " theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Đặng Thị D (tên gọi khác: D) – Sinh ngày 12-02-1980.

Nghề nghiệp: Làm ruộng; Dân tộc: Dao; Văn hóa: 0/12.

Địa chỉ: Thôn Khuổi L, xã Thượng S, huyện V, tỉnh H. (Vắng mặt có đơn xin giải quyết).

2. Bị đơn: Anh Đặng Xuân H(tên gọi khác: H) – Sinh 25-9- 1978.

Nghề nghiệp: Làm ruộng; Dân tộc: Dao. Văn hóa: 7/12

Địa chỉ: Thôn Khuổi L, xã Thượng S, huyện V, tỉnh H. (Vắng mặt có đơn xin giải quyết).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 04-12-2019 của nguyên đơn và các lời khai tại Tòa án chị Đặng Thị D trình bày: Chị D và anh H trước khi kết hôn không được tìm hiểu, tự nguyện về chung sống có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương, không làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Vợ, chồng về chung sống từ đầu năm 1996, thời gian đầu vợ, chồng chung sống hạnh phúc. Đến khoảng đầu năm 2000 vợ, chồng phát sinh mâu thuẫn. Lý do mâu thuẫn là do cuộc sống gia đình có nhiều điều bất đồng trong làm ăn kinh tế,

1

cuộc sống không hòa thuận, nên thường xuyên xảy ra cãi vã nhau. Vợ, chồng đã sống ly thân từ năm 2013 cho đến nay không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, mỗi người tự lo cho cuộc sống riêng của mình. Nay chị D có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với anh Đặng Xuân H để mỗi người có một cuộc sống riêng.

Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ, chồng chị D và anh H có ba con chung:

Cháu Đặng Thị V, sinh năm 1996.

Cháu Đặng Thị M, sinh năm 1999.

Cháu Đặng Tiến H, sinh năm 2001.

Hiện nay các cháu đã đến tuổi trưởng thành và đã xây dựng gia đình chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản, công nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn Đặng Xuân H thể hiện tại biên bản lấy lời khai của đương sự ghi ngày 24-12-2019, Biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ghi ngày 10-01-2020 có nội dung: Anh H nhất trí với lời trình bày của chị Đặng Thị D về việc vợ, chồng về chung sống từ đầu năm 1996, nhưng không làm thủ tục có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ, chồng chung sống hạnh phúc, đến khoảng đầu năm 2000 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do cuộc sống gia đình anh H và chị D có nhiều điều bất đồng trong làm ăn kinh tế, cuộc sống không hòa thuận, nên thường xuyên xảy ra cãi vã nhau. Vợ, chồng đã sống ly thân nhau từ năm 2013 cho đến nay, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau mỗi người tự lo cho cuộc sống riêng của mình. Nay chị D có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn anh H hoàn toàn nhất trí để mỗi người có một cuộc sống riêng.

Về con chung:

Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng chị D và anh H có ba con chung:

Cháu Đặng Thị V, sinh năm 1996.

Cháu Đặng Thị M, sinh năm 1999.

Cháu Đặng Tiến H, sinh năm 2001.

Hiện nay các cháu đã đến tuổi trưởng thành và đã xây dựng gia đình anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản, công nợ chung: Anh H và chị D không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tiến hành thụ lý vụ án và tiến hành các bước theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Do các đương sự không có đăng ký kết hôn, Tòa án đưa ra xét xử.

Tại phiên tòa chị D vắng mặt, đã có đơn xin giải quyết vắng mặt tại phiên tòa, Chủ tọa phiên tòa công bố lời khai, đơn của chị D có quan điểm giữ nguyên quan điểm xin ly hôn anh H. Về con chung hiện nay các cháu đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản, công nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2

Tại phiên tòa anh H vắng mặt, đã có đơn xin giải quyết vắng mặt tại phiên tòa, Chủ tọa phiên tòa công bố lời khai, đơn của anh H có quan điểm nhất trí ly hôn chị D. Về con chung hiện nay các cháu đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản, công nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh H phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án không có gì sai phạm.

Ý kiến quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Xuyên về việc giải quyết vụ án:

Áp dụng khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14; Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Áp dụng khoản 4 Điều 147; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễm, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đề nghị HĐXX xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn” của chị Đặng Thị D đối với anh Đặng Xuân H.

2. Về quan hệ hôn nhân: Xử không công nhận là vợ chồng đối với chị Đặng Thị D và anh Đặng Xuân H.

3. Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng chị D và anh H có ba con chung là cháu Đặng Thị V, sinh năm 1996; cháu Đặng Thị M, sinh năm 1999 và cháu Đặng Tiến H, sinh năm 2001. Hiện nay các cháu đã đến tuổi trưởng thành và đã xây dựng gia đình chi D, anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về tài sản, công nợ chung: Chị D và anh H xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Về án phí, quyền kháng cáo theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Đơn khởi kiện của chị Đặng Thị D về việc xin ly hôn với anh Đặng Xuân H được Tòa án nhân dân huyện Vị Xuyên thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ, tiến hành hòa giải, ra quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng trình tự, thủ tục luật định.

3

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị D và anh Đặng Xuân H tự nguyện chung sống với nhau từ đầu năm 1996 đến nay nhưng không làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Việc chung sống giữa chị D và anh H trên cơ sở tự nguyện, trong quá trình chung sống thời gian đầu chị D và anh H có sự hoà thuận hạnh phúc. Đến năm 2000 vợ, chồng bất đồng quan điểm sống, không có sự hoà hợp mỗi người có một tính cách riêng, nên thường xuyên xảy ra, cãi chửi nhau, từ đầu năm 2013 chị D, anh H sống ly thân cho đến nay, mâu thuẫn đã trầm trọng không còn khả năng khắc phục được chị D, anh H nhất trí ly hôn.

Hội đồng xét xử xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị Đặng Thị D và anh Đặng Xuân H không đăng ký kết hôn theo khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Căn cứ tại khoản 1 Điều 14 và Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Tuyên bố không công nhận là vợ chồng đối với chị Đặng Thị D và anh Đặng Xuân H là phù hợp.

Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ, chồng chị D và anh H có ba con chung là cháu Đặng Thị V, sinh năm 1996; cháu Đặng Thị M, sinh năm 1999 và cháu Đặng Tiến H, sinh năm 2001. Hiện nay các cháu đã đến tuổi trưởng thành và đã xây dựng gia đình, chị D, anh H không yêu cầu Tòa án giải quyến, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[4] Về tài sản, công nợ chung: Vợ, chồng chị Dòong, anh Hảo tự không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về án phí: Chị là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Đặng Thị D và anh Đặng Xuân H được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Áp dụng khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14; Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình;

Áp dụng khoản 4 Điều 147; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện: Về việc “ Ly hôn” giữa chị Đặng Thị D đối với anh Đặng Xuân H.

2. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ là vợ, chồng đối với chị Đặng Thị D và anh Đặng Xuân H.

3. Về con chung và tài sản: Không có tài sản, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Chị Đặng Thị D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại Chi cục Thi

4

hành án dân sự huyện V, tỉnh H là 300.000 đồng, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 01995 ngày 20 tháng 12 năm 2019. Chị D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Báo cho chị D, anh H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7; Điều 7a; Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ