- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án ly hôn chia con chung"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Đinh Thị Thanh H và anh Cao Bá N.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG BÌNH Bản án số: 02/2020/HNGĐ- ST Ngày: 08/01/2020 V/v ly hôn giữa chị H và anh N. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Đức Cảnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Đinh Minh Tặng
Ông: Trương Ngọc Nhân
- Thư ký phiên toà: Ông Cao Lương Bằng –Thư ký Tòa án
- Đại diện VKSND huyện Minh Hóa tham gia phiên tòa: Không
Ngày 08 tháng 01 năm 2020, tại phòng xử án, Toà án nhân dân huyện Minh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 75/2019/TLST- HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2019 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 684/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/11/2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Đinh Thị Thanh H; sinh năm 199*
Địa chỉ: Thôn 2 T, xã Q, huyện M, tỉnh Quảng Bình. Có đơn xin xét xử vắng mặt
2. Bị đơn: Anh Cao Bá N; sinh năm 198*
Địa chỉ: Tiểu khu *, thị trấn Q, huyện M, tỉnh Quảng Bình. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 02/10/2019 và trong bản tự khai cũng như đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn chị Đinh Thị Thanh H trình bày:
- Về hôn nhân: Chị và anh Cao Bá N quen biết, yêu thương nhau và tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn vào năm 2014 tại Ủy ban nhân dân xã Quy Hóa, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc sau đó thì xảy ra mẫu thuẫn, hai vợ chồng thường xuyên cãi vã, không hợp tính tình, đời sống chung không thể kéo dài. Hai vợ chồng đã ly thân từ năm 2017 đến nay. Hiện tại chị cũng không còn tình cảm vợ chồng với anh N nữa. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị làm đơn yêu cầu được ly hôn với anh N.
- Con chung của vợ chồng: Hai vợ chồng có 01 con chung là cháu Cao Quỳnh H, sinh ngày 14/3/2014. Chị H có nguyện vọng sau khi ly hôn sẽ được nuôi dưỡng cháu H.
- Tài sản chung và nợ chung: Không có
Tại bản tự khai của đương sự ngày 02/01/2019 và quá trình giải quyết vụ án anh Cao Bá N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị H kết hôn vào năm 2014 tại UBND xã Quy Hóa, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình. Quá trình chung sống không xảy ra mẫu thuẫn gì lớn nhưng do điều kiện kinh tế nên đôi lúc xảy ra cãi vã, năm 2017, chị Huyền bỏ đi làm ăn ở Miền Nam từ đó hai vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Chị H làm đơn xin ly hôn anh thì anh cũng đồng ý.
- Về con chung: Hai vợ chồng có 01 con chung là cháu Cao Quỳnh H, sinh ngày 14/3/2014, do chị H đang làm ăn ở Miền Nam nên anh có nguyện vọng xin được nuôi dưỡng cháu H và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung.
- Tài sản chung và nợ chung: Không có
Tại phiên tòa: Anh N xin ly hôn với chị H và xin nuôi dưỡng cháu H. Tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng: Việc chị Đinh Thị Thanh H yêu cầu giải quyết ly hôn với anh Cao Bá N, xét yêu cầu khởi kiện là đúng quy định của pháp luật cần chấp nhận và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa. Nguyên đơn có đơn đề nghị xin xét xử vắng mặt căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn.
. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị Thanh H và anh Cao Bá N kết hôn với nhau vào năm 2014 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không có ai ép buộc và được UBND xã Quy Hóa, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình cấp giấy chứng nhận kết hôn vì vậy đây là cuộc hôn nhân hợp pháp.
. Xét yêu cầu ly hôn của chị Đinh Thị Thanh H: Vợ chồng chị H và anh N không còn yêu thương, quý trọng, quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ lẫn nhau nữa thể hiện lời trình bày của chị H trong quá trình giải quyết vụ án. Hai vợ chồng có nhiều mâu thuẫn do bất đồng trong cuộc sống, không thể hàn gắn được và hai vợ chồng cũng đã sống ly thân. Anh N cũng đồng ý ly hôn, Tòa án xét thấy tình trạng hôn nhân của chị H và anh N đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị H là có căn cứ phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
. Về con chung: Hai vợ chồng có 01 con chung là cháu Cao Quỳnh H, sinh ngày 14/3/2014. Nguyện vọng của chị H là xin được nuôi dưỡng cháu H, anh N cũng xin được nuôi dưỡng cháu H.
Hội đồng xét xử xét thấy hiện tại chị H đã đi làm ăn ở Miền Nam không có điều kiện chăm sóc được con chung, anh N cũng có nguyện vọng xin được nuôi dưỡng cháu H, xuất phát từ quyền lợi về mọi mặt của con cần giao cháu H cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng là đúng quy định của pháp luật là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Do anh N không yêu cầu chị H cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về tài sản chung và các khoản vay nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 147, 227, 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 56, 57, 82, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Đinh Thị Thanh H và anh Cao Bá N.
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Cao Quỳnh H, sinh ngày 14/3/2014 cho anh Cao Bá N trực tiếp nuôi dưỡng. Anh N không yêu cầu chị H đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung nên Toà án không giải quyết.
Cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Bên không nuôi con được quyền tới lui, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Trường hợp bên không trực tiếp nuôi con chung lạm dụng việc thăm nom đển cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở bên không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
Khi cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con, có quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Toà án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về chia tài sản chung và nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí: Chị Đinh Thị Thanh H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số: 0004146 ngày 02/10/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Minh Hoá, tỉnh Quảng Bình.
5. Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (08/01/2020). Đương sự vắng mặt tại phiên toà hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Minh Hóa; - THADS huyện Minh Hóa; - TAND tỉnh Quảng Bình; - UBND xã Quy Hóa; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( đã ký) Đinh Đức Cảnh |