vanban.org

Bản án 02/2020/DSST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” của Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam người được ủy quyền ông Thái Xuân L giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội huyện H, tỉnh Quảng Bình đối với bà Đinh Thị V (tên gọi khác: Đinh Thị V).

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Đinh Thị V (tên gọi khác: Đinh Thị V) phải chịu 6.222.000đ (sáu triệu hai trăm hai mươi hai ngàn đồng) án phí dân sự có giá ngạch. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án đến khi thi hành xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi, theo lãi suất đượ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” của Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam người được ủy quyền ông Thái Xuân L giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội huyện H, tỉnh Quảng Bình đối với bà Đinh Thị V (tên gọi khác: Đinh Thị V).
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUYÊN HÓA
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2020/DSST
Ngày: 13 - 8 - 2020
“V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA- TỈNH QUẢNG BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Thanh Dần.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Thuận

Ông Đinh Xuân Phầu

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Trần Thị Linh Chi - Cán bộ TAND huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình: Ông Phan Quang Phú – Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 13 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình tiến hành xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 06/2018/TLST - TCDS ngày 29/6/2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2020/QĐST - DS ngày 30 tháng 6 năm 2020; Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2020/QĐHPT – DSST ngày 14 tháng 7 năm 2020, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam.

Địa chỉ: Số 169, phố Linh Đường, phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết T - Chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Thái Xuân L - Giám đốc phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện H, tỉnh Quảng Bình (Thay ông Dương Xuân Trí theo quyết định bổ nhiệm số: 107/QĐ – NHCS ngày 25 tháng 01 năm 2019 của Giám đốc chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Quảng Bình)

Người được ông Thái Xuân L ủy quyền: Ông Nguyễn Tất T - Phó giám đốc phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện H, tỉnh Quảng Bình (có mặt).

Bị đơn: Bà Đinh Thị V - tên gọi khác: Đinh Thị V, sinh năm: 1948.

Trú tại: Thôn K, xã S, huyện H, tỉnh Quảng Bình (vắng mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Bà Đinh Thị H, sinh năm 1981.

Trú tại: Thôn K, xã S, huyện H, tỉnh Quảng Bình (vắng mặt).

- Bà Đinh Thị Nguyệt N, sinh năm 1987.

Trú tại: Thôn K, xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình (vắng mặt).

- Anh Đinh Trung Đ, sinh năm 1990.

Trú tại: Thôn K, xã S, huyện H, tỉnh Quảng Bình (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 18/6/2018 của ông Dương Xuân T (Giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội huyện H, tỉnh Quảng Bình) và bản tự khai ngày 24/7/2018 của ông Thái Xuân L (phó giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội huyện H, tỉnh Quảng Bình) được ông Dương Xuân T ủy quyền và lời trình bày của ông Nguyễn Tất T được ông Thái Xuân L giám đốc ủy quyền khai: Bà Đinh Thị V (tên gọi khác: Đinh Thị V) là vợ của ông Đinh Minh T (đã chết) là người thừa kế đã vay vốn tại Ngân hàng Chính sách xã hội huyện H, tỉnh Quảng Bình vay theo hai chương trình vay vốn.

1. Chương trình cho vay hộ nghèo:

Căn cứ giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay của ông Đinh Minh T đã được Ngân hàng Chính sách xã hội huyện H phê duyệt ngày 20/5/2011 và nhận tiền vay theo khế ước số: 6000003000138987(07HN00360), số tiền 18.000.000đ; ngày vay 25/5/2011, hạn trả nợ ngày 25/5/2014. Đến hết thời hạn trả nợ, hộ vay chưa có tiền trả nợ và xin gia hạn thêm 2 lần với tổng thời gian gia hạn là 18 tháng đến ngày 25/12/2015 hết thời hạn trả nợ cuối cùng, hộ vay vẫn không chấp hành trả nợ. Ngày 11/01/2016 Ngân hàng Chính sách xã hội huyện H đã chuyển nợ quá hạn. Hiện dư nợ món vay này đến ngày 13/8/2020 là: 27.385.000đ (trong đó dư nợ tiền gốc: 18.000.000đ; lãi quá hạn chưa trả 9.385.000đ)

Căn cứ giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay của ông Đinh Minh T đã được Ngân hàng Chính sách xã hội phê duyệt ngày 23/9/2008 và nhận tiền vay theo khế ước số 6000003000138986 (07NH00167) số tiền 12.000.000đ, ngày vay 23/9/2008 hạn trả nợ ngày 23/9/2011 nhưng đã hết thời hạn trả nợ hộ vay chưa có tiền trả nợ và xin gia hạn thêm 2 lần với tổng số thời gian là 18 tháng đến ngày 23/3/2013 nhưng hộ vay vẫn không trả nợ. Ngày 11/4/2013 hộ vay tiếp tục xin lưu vụ số tiền 12.000.000đ trong thời gian 3 năm, hạn trả cuối cùng ngày 11/4/2016 hết hạn trả nợ nhưng hộ vay vẫn chây ỳ không chịu trả. Ngày 11/4/2016 Ngân hàng Chính sách xã hội huyện H chuyển nợ quá hạn món vay này. Dư nợ đến ngày 13/8/2020 là 18.190.000đ (trong đó nợ tiền gốc 12.000.000đ, Lãi quá hạn chưa trả 6.190.000đ)

2. Chương trình cho vay học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn.

Căn cứ giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay của ông Đinh Minh T vay cho con là sinh viên Đinh Ngọc S đã được Ngân hàng Chính sách xã hội huyện H phê duyệt ngày 26/11/2007 và nhận tiền vay theo khế ước số 6000003000132144, số tiền 25.800.000đ, ngày vay 26/11/2007, hạn trả nợ ngày 14/10/2015, nhưng hết thời hạn trả nợ hộ vay chưa trả và xin gia hạn thêm một lần với thời gian gia hạn là 6 tháng đến ngày 14/4/2016 mà hộ vay vẫn không chịu trả nợ. Ngày 11/5/2016 Ngân hàng Chính sách xã hội huyện H chuyển nợ quá hạn. Hiện dư nợ của món vay này đến ngày 13/8/2020 (ngày xét xử) là 38.245.000đ trong đó (nợ tiền gốc 25.800.000đ, Lãi quá hạn chưa trả 12.445.000đ)

Căn cứ giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay của ông Đinh Minh T vay cho con là sinh viên Đinh Trung Đ đã được Ngân hàng Chính sách xã hội huyện H phê duyệt ngày 26/11/2007 và nhận tiền vay theo khế ước số 6000003000132143, số tiền 26.600.000đ, ngày vay 26/11/2007 hạn trả nợ ngày 30/8/2016, nhưng hết thời hạn trả nợ hộ vay chưa trả. Ngày 11/9/2016 Ngân hàng Chính sách xã hội huyện H chuyển nợ quá hạn. Dư nợ món vay này đến ngày 13/8/2020 ngày xét xử là 40.615.000đ trong đó (nợ tiền gốc: 26.600.000đ, Lãi quá hạn chưa trả 14.015.000đ)

Tổng dư nợ cả hai loại vay vốn đến ngày 13/8/2020 (ngày xét xử) là 124.435.000đ (một trăm hai mươi bốn triệu bốn trăm ba mươi lăm nghìn đồng)

Để đảm bảo thu hồi vốn vay gốc và lãi Ngân hàng Chính sách xã hội huyện H đề nghị Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa buộc bà Đinh Thị V (tên gọi khác Đinh Thị V) là người thừa kế phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay của ông Đinh Minh T với Ngân hàng Chính sách xã hội huyện H theo quy định của pháp luật.

Án phí dân sự sơ thẩm: Ngân hàng Chính sách xã hội huyện H, tỉnh Quảng Bình không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời khai của đương sự; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam ủy cho Ngân hàng Chính sách xã hội huyện H, tỉnh Quảng Bình (theo quyết định ủy quyền số 4716/QĐ – NHCS ngày 25/11/2016) làm đơn khởi kiện hộ vay bà Đinh Thị V (tên gọi khác Đinh Thị V theo hồ sơ vay vốn), sinh năm 1948 có hộ khẩu thường trú tại thôn K, xã S, huyện H, tỉnh Quảng Bình quan hệ với hộ vay ông Đinh Minh T (đã chết) là vợ của ông Tiếp được thể hiện là người thừa kế trong các loại hồ sơ vay vốn tại Ngân hàng Chính sách xã hội huyện H, tỉnh Quảng Bình. Ông Đinh Minh T, sinh năm 1943 là chồng của bà Đinh Thị V(tên gọi khác Đinh Thị V) chết ngày 11/4/2014, bà Đinh Thị V (tên gọi khác Đinh Thị V) phải có trách nhiệm và nghĩa vụ phải trả nợ các khoản vay vốn tại Ngân hàng Chính sách xã hội huyện H, tỉnh Quảng Bình. Việc Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam ủy cho Ngân hàng Chính sách xã hội huyện H, tỉnh Quảng Bình khởi kiện bà Đinh Thị V (tên gọi khác Đinh Thị V) phải trả nợ các khoản vay gốc và lãi là đúng quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa đã tiến hành triệu tập, thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải cho các bên đương sự đến tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa và trụ sở UBND xã S để giải quyết nhưng các lần triệu tập, thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải chỉ có mặt đại diện Ngân hàng Chính sách xã hội huyện H, tỉnh Quảng Bình là nguyên đơn được ủy quyền còn bà Đinh Thị V (tên gọi khác Đinh Thị V) và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa đã phối hợp với UBND xã S cùng tổ vay vốn của thôn K, xã S trực tiếp đến tại nhà bà V cũng như nhà của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan thì bà V và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cố tình trốn tránh không hợp tác và không khai báo nên Tòa án không tiến hành lấy được lời khai và hòa giải được. Tòa án đưa vụ án ra xét xử lần thứ 2 bà Đinh Thị V (tên gọi khác Đinh Thị V) và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vẫn vắng mặt vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 điểm b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt bà Đinh Thị V (tên gọi khác Đinh Thị V) bị đơn và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

Theo đơn khởi kiện và căn cứ giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay của chủ hộ ông Đinh Minh T, người thừa kế bà Đinh Thị V (tên gọi khác Đinh Thị V) và giấy xin gia hạn nợ của bà Đinh Thị V (tên gọi khác Đinh Thị V) đã được Ngân hàng Chính sách xã hội huyện H, tỉnh Quảng Bình phê duyệt thì hộ vay ông Đinh Minh T, bà Đinh Thị V (tên gọi khác Đinh Thị V) có vay vốn tại Ngân hàng Chính sách xã hội huyện H, tỉnh Quảng Bình được thể hiện hai loại vay vốn là cho vay theo chương trình hộ nghèo và cho vay theo chương trình học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn. Vay theo hộ nghèo mục đích để phát triển chăn nuôi của gia đình còn vay theo chương trình học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn là vay cho sinh viên Đinh Ngọc S học trường Cao đẳng công nghệ Đà Nẵng và vay cho sinh viên Đinh Trung Đ học trường Cao đẳng Công nghệ thông tin – Đại học Đà Nẵng. Qua xem xét các hồ sơ đề nghị vay vốn của hộ vay ông Đinh Minh T, bà Đinh Thị V (tên gọi khác Đinh Thị V) là người thừa kế đã được Ngân hàng Chính sách xã hội huyện H, tỉnh Quảng Bình xem xét phê duyệt cho vay vốn và hộ vay đã nhận tiền vay là hợp pháp bảo đảm đúng theo trình tự, thủ tục và các quy định của pháp luật. Vì vậy hồ sơ vay vốn của chủ hộ vay ông Đinh Minh T, bà Đinh Thị V (tên gọi khác Đinh Thị V) với Ngân hàng Chính sách xã hội huyện H, tỉnh Quảng Bình là hợp pháp. Vì vậy hồ sơ đề nghị vay vốn này là căn cứ pháp lý để các bên có trách nhiệm và nghĩa vụ thực hiện. Hồ sơ vay vốn được phân kỳ trả nợ và thời hạn xin gia hạn thêm của bà Đinh Thị V vẫn không thực hiện được bà Đinh Thị V (tên gọi khác Đinh Thị V) đã làm đơn xin gia hạn nợ nhiều lần với lý do hoàn cảnh gia đình khó khăn chưa có tiền trả nợ vay trên cơ sở ý kiến đề nghị của tổ vay vốn xã S và đã được Ngân hàng Chính sách xã hội huyện H xem xét chấp nhận và cho gia hạn nhiều lần. Hết thời hạn gia hạn nợ vay mặc dù Ngân hàng Chính sách xã hội huyện H đã cử cán bộ trực tiếp phối hợp với chính quyền địa phương và tổ vay vốn của xã S trực tiếp đến tại nhà bà V (tên gọi khác Đinh Thị V) đôn đốc yêu cầu trả nợ nhưng bà V không hợp tác cố ý trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Đây là tài sản của Nhà nước để thu hồi đủ gốc và lãi kịp thời đúng các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử thấy chấp nhận đơn khởi kiện của Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam ủy quyền cho Ngân hàng Chính sách xã hội huyện H, tỉnh Quảng Bình khởi kiện hộ vay bà Đinh Thị V (tên gọi khác Đinh Thị V) là người thừa kế trong hồ sơ vay vốn là đúng quy định của pháp luật. Tính đến ngày 13/8/2020 (ngày xét xử) tổng dư nợ toàn bộ của các món vay là: 124.435.000đ, trong đó nợ tiền gốc là 82.400.000đ, nợ tiền lãi quá hạn chưa trả là 42.035.000đ. Từ khi vay vốn đến nay hộ vay chưa trả được đồng nào vì vậy cần áp dụng các Điều 275, Điều 280, Điều 288, Điều 463, Điều 466 và Điều 468 Bộ Luật dân sự buộc bà Đinh Thị V (tên gọi khác Đinh Thị V) phải có trách nhiệm và nghĩa vụ trả đầy đủ số tiền vay gốc và lãi cho Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam nơi thực hiện nghĩa vụ trả nợ Ngân hàng Chính sách xã hội huyện H, tỉnh Quảng Bình theo các giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay mà hai bên đã ký kết tổng số tiền gốc và lãi đến ngày 13/8/2020 ngày xét xử sơ thẩm là 124.435.000đ (một trăm hai mươi bốn ngàn bốn trăm ba mươi lăm nghìn đồng) trong đó nợ tiền gốc là 82.400.000đ, nợ tiền lãi quá hạn chưa trả là 42.035.000đ.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Ngân hàng Chính sách xã hội huyện H, tỉnh Quảng Bình được miễn nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm nên không xem xét. Án phí dân sự sơ thẩm bà Đinh Thị V phải chịu theo quy định của pháp luật.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa phát biểu tại phiên tòa đối với Thẩm phán và thư ký trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân theo các quy định của pháp luật và tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã đảm bảo thực hiện đúng và đủ thành phần theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn được ủy quyền Ngân hàng Chính sách xã hội huyện H, tỉnh Quảng Bình có mặt còn phía bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt không có lý do. Tòa án đã tiến hành xác minh làm việc nhưng bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cố tình trốn trách không hợp tác, vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt bà Đinh Thị V và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là đúng quy định của pháp luật. Theo đơn khởi kiện của Ngân hàng Chính sách xã hội huyện H đối với hộ vay ông Đinh Minh T là chủ hộ vay, bà Đinh Thị V là người thừa kế, hiện nay ông Tiếp đã chết bà Đinh Thị V là người thừa kế phải có trách nhiệm và nghĩa vụ phải trả đủ số tiền vay vốn gốc và lãi đến ngày 13/8/2020 ngày xét xử sơ thẩm là 124.435.000đ (một trăm hai mươi bốn triệu bốn trăm ba mươi lăm nghìn đồng) trong đó tiền gốc là 82.400.000đ, nợ tiền lãi quá hạn chưa trả là 42.035.000đ. Về án phí dân sự sơ thẩm Ngân hàng Chính sách xã hội huyện H, tỉnh Quảng Bình không phải chịu. Án phí dân sự sơ thẩm bà Đinh Thị V phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” của Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam người được ủy quyền ông Thái Xuân L giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội huyện H, tỉnh Quảng Bình đối với bà Đinh Thị V (tên gọi khác: Đinh Thị V).

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt bà Đinh Thị V (tên gọi khác Đinh Thị V) bị đơn và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Đinh Thị H, chị Đinh Thị Nguyệt N và anh Đinh Trung Đ.

1. Áp dụng các Điều Điều 275, Điều 280, Điều 288, Điều 463, Điều 466 và Điều 468 Bộ Luật dân sự buộc bà Đinh Thị V (tên gọi khác: Đinh Thị V) phải có trách nhiệm và nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội huyện H, tỉnh Quảng Bình tổng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 13/8/2020 là: 124.435.000đ (một trăm hai mươi bốn triệu bốn trăm ba mươi lăm nghìn đồng). Trong đó tiền gốc là 82.400.000đ, lãi tồn đọng là 42.035.000đ.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Đinh Thị V (tên gọi khác: Đinh Thị V) phải chịu 6.222.000đ (sáu triệu hai trăm hai mươi hai ngàn đồng) án phí dân sự có giá ngạch.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án đến khi thi hành xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi, theo lãi suất được xác định theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Tuyên bố nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (13/8/2020) riêng bị đơn bà Đinh Thị V và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Đinh Thị H, anh Đinh Trung Đ thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ bản án được niêm yết tại trụ sở UBND xã S, huyện H, tỉnh Quảng Bình. Chị Đinh Thị Nguyệt N thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ bản án được niêm yết tại trụ sở UBND xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình.

Cỡ chữ