- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng giữa ông P với chị T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu kh i kiện của ông Vũ Ngọc P. Buộc chị Vũ Thị T phải trả cho ông Vũ Ngọc P số tiền nợ gốc là 61.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố t ng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố t ng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố t ng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
T
N N N N
N
N
V T N M
N T N
c – T d – nh h c
T N T
N Bản án số: 02/2020/DS - ST. Ngày: 29/4/2020. V/v: "Kiện đòi tài sản”.
NHÂN DANH
N
N
N
V T N M
T
N N N N
N T N
- T N T
N
- Thành ph n H i đ ng xét x s th m g m có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Linh.
Các H i thẩm nh n d n:
Ông Phạm Mã Siêu.
Ông Trần Văn Hiểu.
- Th ký phiên toà: Ông Lê Trung Hiếu - Th ký Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
- Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân huy n Ti n H i, t nh Thái Bình tham gia phiên to : Ông Phạm Văn Nhất - Kiểm sát viên.
Ngày 29/4/2020 tại tr s Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình x t x s th m công khai v án dân sự th lý số 23/2019/TLST- DS ngày 06/12/2019 về “Tranh chấp kiện đòi tài sản” theo Quyết định đ a v án ra x t x số 02/2020/QĐXXST-DS ngày 24/02/2020,Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2020/QĐST- DS ngày 18/3/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2020/QĐST-DS ngày 17/4/2020 gi a các đ ng sự:
1. Nguyên đơn: Ông Vũ Ngọc P, sinh năm 1952
Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện H, tỉnh Thái Bình.
Người bảo vệ quyền v lợi ích hợp pháp của nguyên đơn:
- Ông Nguyễn Phúc Tr - Luật s thuộc Chi nhánh Công ty Luật TNHH HTC Việt Nam.
- Bà Đinh Thị Thu T - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà n ớc tỉnh Thái Bình.
2. Bị đơn: Chị Vũ Thị T, sinh năm 1973.
Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện H, tỉnh Thái Bình.
(Ông P, ông Tr, bà T, chị T có mặt tại phiên tòa)
N
N VỤ N:
Tại đơn khởi kiện ng y 04/11/2019 v quá trình tố tụng tại Tòa án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn ông Vũ Ngọc P trình bày:
Ngày 30/8/2017 âm lịch, ông P cho chị Vũ Thị T vay số tiền là 61.800.000đồng (Sáu m i mốt triệu tám trăm nghìn đồng) với lãi suất 1%/tháng có giấy tờ viết tay và giấy hẹn trả nợ do chị T ký, thời hạn trả nợ là ngày 30/3/2018 âm lịch. Khi đến thời hạn trả nợ, ông P đã nhiều lần yêu cầu chị T trả cho ông số tiền trên nh ng chị T cố tình không trả. Ngày 03/9/2019, ông P đã làm đ n tố cáo chị T về hành vi lạm d ng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản lên Công an huyện Tiền Hải, ngày 21/10/2019 Công an huyện Tiền Hải có Thông báo trả lại đ n do v việc không có dấu hiệu tội phạm và h ớng dẫn ống P g i đ n đến Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải để giải quyết v việc theo thủ t c dân sự. Nay ông P yêu cầu chị T phải trả cho ông số tiền nợ gốc là 61.800.000đồng (Sáu m i mốt triệu tám trăm nghìn đồng) và lãi suất 1%/tháng kể từ ngày 30/8/2017 âm lịch đến ngày 30/3/2020 âm lịch.
Ng ời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đ n là ông Tr và bà T trình bày: Việc vay nợ gi a ông P và chị T hai bên có ký giấy tờ vay nợ. Trong quá trình vay chị T ch a trả nợ cho ông P, tại giấy biên nhận nợ tiền ngày 30/8/2017 và giấy hẹn trả tiền ngày 12/8/2019 Chị T thừa nhận nợ ông P số tiền gốc là 61.800.000đồng (Sáu m i mốt triệu tám trăm nghìn đồng) và lãi suất 1%/tháng kể từ ngày 30/8/2017. Việc chị T cho rằng chị T chỉ còn nợ ông P số tiền 45.000.000 đồng là không có c s . Ng ời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đ n đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông P buộc chị T phải trả cho ông P số tiền gốc là 61.800.000đồng và lãi là 1%/tháng kể từ ngày 30/8/2017 âm lịch đến ngày 30/3/2020 âm lịch.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 23/12/2019, quá trình tố t ng tại Tòa án và tại phiên tòa, bị đ n chị Vũ Thị T trình bày: Tr ớc đây chị T có vay tiền ông P nhiều lần nh ng không nhớ thời gian c thể, mỗi lần vay chị T đều trả lãi đầy đủ cho ông P với lãi suất 2.000đồng/01 triệu/ ngày nh ng sau đó do điều kiện kinh tế khó khăn nên chị không có khả năng trả nợ gốc và lãi cho ông P n a. Mỗi lần trả nợ chị T trực tiếp đ a cho ông P mà không có giấy tờ ký nhận gì. Nay chị T xác định chỉ còn nợ lại ông P số tiền 45.000.000đồng đã bao gồm cả tiền lãi và xin trả dần cho ông P mỗi năm 10.000.000đồng kể từ tháng 3/2020. Còn việc ông P yêu cầu chị T phải trả cho ông P số tiền 61.800.000đồng và tiền lãi 1%/tháng chị T không nhất trí. Đối với giấy vay nợ và giấy hẹn trả tiền là do chị T ký nh ng vì tin t ng ông P nên chị T mới ký vào giấy vay nợ.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố t ng của Th m phán, Hội đồng x t x , Th ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của ng ời tham gia tố t ng trong quá trình giải quyết v án kể từ khi th lý cho đến tr ớc thời điểm Hội đồng x t x nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết v án. Th m phán, Hội đồng x t x , Th ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố t ng dân sự. Nguyên đ n, bị đ n chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Kểm sát viên đề nghị Hội đồng x t x :
Chấp nhận yêu cầu kh i kiện của ông Vũ Ngọc P, buộc chị Vũ Thị T phải trả cho ông P số tiền nợ gốc là là 61.800.000đồng (Sáu m i mốt triệu tám trăm nghìn đồng) và lãi suất 1%/tháng kể từ ngày 30/8/2017 âm lịch đến ngày 30/3/2020 âm lịch.
Về án phí: Chị Vũ Thị T phải chịu án phí dân sự s th m theo quy định của pháp luật.
N ẬN ỊN
TÒ N:
Sau khi nghiên cứu các t i liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa v ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Bị đ n là chị Vũ Thị T c trú tại huyện H, tỉnh Thái Bình, theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 35 và điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố t ng dân sự , v án “Tranh chấp kiện đòi tài sản” gi a ông Vũ Ngọc P và chị Vũ Thị T thuộc th m quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
[2]. Về n i dung:
[2.1]. Xét yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Ngọc P về việc bu c chị Vũ Thị T phải trả cho ông P số tiền nợ gốc 61.800.000đồng (Sáu mươi mốt triệu tám trăm nghìn đồng).
Theo các tài liệu có trong hồ s v án và lời khai của ông Vũ Ngọc P thể hiện gi a ông P và chị T có diễn ra việc vay nợ với nhau. Ngày 30/8/2017 âm lịch hai bên đã viết giấy nhận nợ và chốt nợ số tiền gốc chị T còn nợ ông P là 61.800.000đồng (Sáu m i mốt triệu tám trăm nghìn đồng) và lãi suất 1%/tháng kể từ ngày 30/8/2017 âm lịch, thời hạn trả nợ là ngày 30/3/2018 âm lịch. Giấy vay nợ có ch ký của chị T, sau khi chị T ký giấy nhận nợ chốt nợ với ông P và cam kết trả nợ cho ông P vào ngày 30/3/2018 nh ng từ khi chốt nợ với ông P, chị T đã không thực hiện nghĩa v trả nợ cho ông P nh đã thỏa thuận. Chị T thừa nhận có ký vào giấy nhận nợ ngày 30/8/2017 và giấy hẹn trả tiền ngày 12/8/2019 nh ng do tin t ng ông P nên chị mới ký còn trên thực tế chị T chỉ nợ ông P số tiền 45.000.000đồng, còn tiền lãi hàng tháng chị T đã trả cho ông P.
Trong quá trình giải quyết v án, Tòa án đã yêu cầu chị T cung cấp các tài liệu chứng cứ để chứng minh việc chị T chỉ còn nợ ông P số tiền 45.000.000đồng cũng nh các tài liệu thể hiện hàng tháng chị T đã trả lãi cho ông P nh ng chị T không cung cấp đ ợc các tài liệu chứng cứ để chứng minh cho lời khai của chị là có căn cứ. Mặt khác tại giấy nhận nợ ngày 30/8/2017 và giấy hẹn trả tiền ngày 12/8/2019 viết tại Ủy ban nhân dân xã Nam Hà có ch ký của chị T là do chị T tự nguyện viết đã chứng minh việc chị T còn nợ ông P số tiền nợ gốc là 61.800.000đồng. Nh vậy, việc chị T vay nợ ông P là có thật và hai giấy nhận nợ do ông P cung cấp cho Tòa án đều có ch ký và ch viết của chị T. Việc chị T không trả nợ cho ông P là vi phạm nghĩa v theo quy định tại điều 274 Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, ông P yêu cầu chị T phải trả nợ cho ông P là có căn cứ, phù hợp với quy định tại các điều 357, 466 Bộ luật dân sự năm 2015 nên đ ợc Hội đồng x t x chấp nhận.
[2.2]. Xét yêu cầu của ông Vũ Ngọc P về việc bu c chị Vũ Thị T phải trả cho ông P số tiền nợ lãi đối với khoản tiền vay 61.800.000đồng kể từ ng y 30/8/2017 m lịch đến ng y 30/02/2020 m lịch.
X t thấy, tại giấy nhận nợ ngày 30/8/2017 hai bên thỏa thuận lãi suất là 1%/tháng kể từ ngày 30/8/2017. Chị T cho rằng trong quá trình vay chị T đã trả đủ tiền lãi cho ông P, tuy nhiên chị T không đ a ra đ ợc các căn cứ để chứng minh việc chị T đã trả lãi cho ông P. Phía ông P xác định chị T ch a trả tiền lãi cho ông P và cung cấp giấy nhận nợ và giấy hẹn trả tiền thể hiện việc chị T còn nợ tiền gốc và tiền lãi của ông P. Về yêu cầu của ông P buộc chị T phải trả cho ông P số tiền lãi là 1%/tháng, Hội đồng x t x x t thấy: Tại khoản 1 điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: " Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Tr ờng hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không đ ợc v ợt quá 20%/năm của khoản tiền vay. Căn cứ vào khoản 1 điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì lãi suất các bên đã thỏa thuận tại giấy nhận nợ ngày 30/8/2017 là 1%/tháng không v ợt quá mức lãi suất theo quy định của pháp luật. Vì vậy, yêu cầu của ông P về việc buộc chị Vũ Thị T phải trả cho ông P số tiền nợ lãi là 1%/tháng đối với khoản tiền vay 61.800.000đồng là có căn cứ nên đ ợc Hội đồng x t x chấp nhận. Tuy nhiên tại phiên tòa ông P chỉ yêu cầu chị T phải trả từ ngày 30/8/2017 âm lịch đến ngày 30/3/2020 âm lịch (thời gian là 31 tháng) mà không yêu cầu tính lãi đến ngày Tòa án x t x s th m. X t yêu cầu này của ông P là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng x t x chấp nhận và buộc chị T phải trả cho ông P số tiền lãi c thể nh sau: 61.800.000đồng x1% x 31 tháng = 19.158.000đồng (M ời chín triệu một trăm năm m i tám nghìn đồng).
[3]. Về án hí: Yêu cầu kh i kiện của ông Vũ Ngọc P đ ợc Tòa án chấp nhận. Vì vậy, ông P không phải chịu án phí dân sự s th m. Chị Vũ Thị T phải chịu án phí dân sự s th m theo quy định của pháp luật.
[4]. Về quyền kháng cá : Các đ ng sự đ ợc quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
T ỊN :
Căn cứ vào điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39, điều 147, điều 271, điều 273 Bộ luật Tố t ng dân sự. Điều 357, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ờng v Quốc Hội quy định về về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và s d ng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu kh i kiện của ông Vũ Ngọc P. Buộc chị Vũ Thị T phải trả cho ông Vũ Ngọc P số tiền nợ gốc là 61.800.000đồng (Sáu m i mốt triệu tám trăm nghìn đồng) và tiền lãi là 19.158.000đồng (M ời chín triệu một trăm năm m i tám đồng). Tổng số tiền cả gốc và lãi chị Vũ Thị T phải trả cho ông Vũ Ngọc P là: 80.958.000đồng (Tám m i triệu chín trăm năm m i tám nghìn đồng).
“ Kể từ ng y bản án có hiệu lực pháp luật, ông Vũ Ngọc P có đơn yêu cầu thi h nh án m chị Vũ Thị T không thi h nh án hoặc thi h nh được m t phần thì phần chưa thi h nh án chị T phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 1 điều 468 B luật D n sự tương ứng với thời gian chưa thi h nh án”.
2. Về án phí: Chị Vũ Thị T phải nộp 4.047.000đồng ( Bốn triệu không trăm chín m i b y nghìn đồng) tiền án phí dân sự s th m.
“ Trường hợp bản án được thi h nh theo quy định tại điều 2 Luật thi h nh án d n sự thì người được thi h nh án d n sự, người phải thi h nh án d n sự có quyền thỏa thuận thi h nh án, quyền yêu cầu thi h nh án, tự nguyện thi h nh án hoặc bị cưỡng chế thi h nh án theo quy định tại các điều 6, 7 v 9 Luật thi h nh án d n sự, thời hiệu thi h nh án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật thi h nh án d n sự”.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đ n, bị đ n có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án s th m (29/4/2020). Nơi nh n:
| - VKSND huyện Tiền Hải; - Phòng kiểm tra Tòa án tỉnh; - Chi c c THADS huyện Tiền Hải; - Các đ ng sự; - L u | T/M ỒN ÉT Ử SƠ T ẨM Thẩm hán - hủ tọa hiên tòa ( ã ký) hu Thị Linh |