vanban.org

Bản án 02/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng thuê xe và bồi thường thiệt hại về tài sản giữa U và T"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VŨNG LIÊM
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2020/DS-ST
Ngày: 07 – 01 – 2020
"V/v Tranh chấp hợp đồng
thuê xe và yêu cầu ồi thư ng
thiệt hại v tài s n”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM

TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Ẩn.

Các hội thẩm nhân dân :

1. Ông Lâm Văn D ng.

2. Bà Nguyễn Thị Hồng Diễm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Kiều Minh Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện V ng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

- Ñaïi dieän Vieän kieåm saùt nhaân daân huyeän Vuõng Lieâm: Bà Đ ng Thị Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 01 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V ng Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 69/2019/TLST-DS ngày 29 tháng 03 năm 2019 về “Tranh chấp hợp đồng thuê xe và yêu cầu ồi thư ng thiệt hại về tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 199/2019/QĐXX-ST ngày 19 tháng 12 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện V ng Liêm giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Nguyễn Tố U, sinh năm: 1987 (có m t).

Địa chỉ: ấp Q, xã Z, huyện V, tỉnh L.

- Bị đơn:

+ Phạm Minh T, sinh năm: 1992 (v ng m t).

Địa chỉ: ấp N, xã L, huyện V, tỉnh L.

+ Lê Văn K, sinh năm: 1989 (v ng m t);

Địa chỉ: ấp G, xã I, huyện V, tỉnh L.

- Ngư i có quy n lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Đặng Quốc H1, sinh năm: 1984 (có m t);

Địa chỉ: ấp M, xã P, huyện V, tỉnh L.

+ Đoàn Văn L, sinh năm: 1982 (có m t);

Địa chỉ: ấp Y, xã P, huyện V, tỉnh L.

+ Nguyễn Trung H2, sinh năm: 1978 (v ng có đơn xin v ng m t);

Địa chỉ: ấp Q, xã Z, huyện V, tỉnh L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và trong quá trình gi i quyết vụ án nguyên đơn chị Nguy n T trình baøy:

Chị U có cho thuê xe dịch vụ và có giao cho anh Đoàn Văn L và anh Đ ng Quốc H1 quản lý. Vào ngày 28 tháng 9 năm 2018, anh Phạm Minh T có lập hợp đồng thuê xe với anh L và anh H1, xe ô tô 7 chỗ, iển số 64A-030.63, th i gian thuê xe là 01 ngày, xe tự lái với giá là 800.000đ. Lúc giao xe, anh T có h n là vào ngày 29 tháng 9 năm 2018 sẽ trả xe. Nhưng đến 21 ngày 28 tháng 9 năm 2018 thì anh T gọi điện thoại về áo lại là xe ị tai nạn và nói với anh H1 mướn xe cẩu xe 7 chỗ về. Biết được vụ việc anh H2 là chồng của chị U có đến nhà anh L xem tình hình xe hư hại như thế nào rồi về tự thỏa thuận không có trình áo với Công an. Anh T kêu chị U đem xe lên hãng xe sửa chữa và mọi chị phí thanh toán anh T sẽ trả lại sau. Đến ngày 01 tháng 10 năm 2018 thì hãng xe áo giá sữa chữa là 82.182.990đ. Ngoài ra, chị U còn ỏ ra các chi phí khác như: Tiền cẩu xe, tiền mua vỏ xe, tiền thuê xe cẩu, tiền xăng xe và tiền dịch vụ xe tổng cộng là 10.900.000đ. Sau đó chị U có nhiều lần yêu cầu anh T trả lại tiền sữa xe theo ản báo giá và các phí liên quan nêu trên cho chị nhưng anh T không đồng ý và anh nói là anh Nguyễn Văn K lái xe gây tai nạn nên anh K phải có trách nhiệm ồi thư ng.

Nay chị U khởi kiện yêu cầu anh Phạm Minh T và anh Lê Văn K phải liên đới có trách nhiệm trả lại cho chị số tiền sữa xe theo ảng áo giá của hãng xe là 82.182.990đ. Trong quá trình chuẩn ị xét xử chị U có khởi kiện yêu cầu anh T và anh K ồi thư ng các chi phí tiền cẩu xe, tiền mua vỏ xe, tiền thuê xe cẩu, tiền xăng xe và tiền dịch vụ xe là 10.900.000đ, nhưng chị U đã làm thất lạc các hóa đơn nên xin rút lại yêu cầu đối với số tiền chi phí là 10.900.000đ. Chỉ U kh ng định chỉ yêu cầu anh T và anh K phải ồi thư ng không yêu cầu những ngư i khác.

* Tại ng khai ý kiến và các l i khai trong quá trình gi i quyết vụ án ị đơn anh Lê Văn K trình bày:

Trước đây anh T có thuê xe từ anh H1 để tự lái rồi rủ anh K đi chung, anh K không nhớ rõ ngày tháng. Khi xe khởi khoảng 21 gi ngày trước của ngày xảy ra tai nạn, trên xe lúc khởi hành có 06 ngư i gồm: Anh K, Phạm Minh T, B, N, M và 01 ngư i còn gái còn lại anh K không nhớ tên. Anh B điều khiển xe từ xã Hiếu Nghĩa đi về Kiên Giang. Đến khoảng 4 gi sáng ngày xảy ra tai nạn thì mọi ngư i dừng xe lại nghỉ ngơi do trước đó có uống ít rượu nên mọi ngư i đều mệt, vị trí xe đỗ là ở thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiêng Giang. Lúc đó, thì xe vẫn còn nổ máy (trước đó do xe không tự khởi động được nên mọi ngư i phải đẩy xe mới có thể khởi động nên khi dừng xe thì không có t t máy xe). Khi mọi ngư i nghỉ ngơi thì Triều hỏi anh K iết ga, số xe nằm ở đâu không, lúc đó anh K ngồi ở vị trí của tài xế. Triều chỉ cho anh K ên nào là cần ga, ên nào là cần th ng và đâu là cần số rồi Triều ỏ đi. Anh K nằm dựa ra sau để nghỉ ngơi thì chân của anh vô tình đạp vào ga của xe, nghe xe nổ máy lớn anh K giật mình ngồi dậy thì tay của anh K đụng vào cần số làm xe lao về phía trước. Xe lao về phía trước khoảng 3m rồi ánh xe phía trước đụng vào dãy phân cách giữa lộ, đầu xe gần đến cột đèn phía trước nhưng anh K không iết có đụng vào cột đèn hay không, xe khi va chạm thì đã t t máy. Sự việc xảy ra không có ai ị thương.

Sau đó mọi ngư i kéo xe ra, đẩy xe để khởi động máy và chạy đến trạm sửa xe của thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang để kiểm tra xe. Trạm sửa xe

áo giá nếu sửa lại hết là khoảng 30.000.000đ đến 40.000.000đ. Do lúc đó anh K không có tiền trong ngư i nên mọi ngư i lên xe chạy về không có sửa xe. Trên đư ng về có ghé nhà của anh K tại xã Tân Đông, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang để ăn uống và nghỉ ngơi rồi sau đó mới chạy xe về. Xe chạy về đến xã Hữu Thành, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long thì T có điện thoại áo cho anh L

iết xe đã xảy ra tai nạn rồi chạy xe về nhà của anh L, khi xe đến nhà của anh L là khoảng gần 19 gi cùng ngày xảy ra tai nạn. Sau 1 ngày kể từ ngày xảy ra tai nạn thì chủ xe đã đưa xe lên hãng để sửa chữa. Đến ngày thứ 2 kể từ ngày xảy ra tai nạn thì T có điện thoại cho anh K lên hãng xe, khi lên hãng xe thì có anh K, Triều, anh L, anh H1 và anh H2. Hãng xe có đưa cho anh K và anh T mỗi ngư i 01 ảng áo giá khoảng tám mươi mấy triệu (anh K không nhớ rõ số tiền cụ thể). Anh K có ngồi uống cà phê để thỏa thuận với anh H2, lúc đó c ng có anh T, anh T nói lỗi gây tai nạn là do tôi nên không đồng ý ồi thư ng. Anh H2 kêu đưa cho anh phân nữa tiền sửa xe trước, phần còn lại từ từ trả sau nhưng anh K nói với anh H2 là anh không có tiền.

Nay chị U khởi kiện yêu cầu anh K và anh T phải trả lại số tiền sữa xe theo ảng áo giá của hãng xe là 82.182.990đ thì anh K không đồng ý.

Anh K chỉ đồng ồi thư ng cho chị U phần của anh ao gồm các khoản sau:

- Khung sương két nước: 2.809.800đ; Cảng chữ A: 2.548.000đ; Lưới nhựa giữa cảng trước: 235.000đ; p nhựa trên vô lăng: 411.800đ; N p nhận kèn 1.516.800đ; Cảng trước 2.250.500đ; p giữa trên cảng trước 973.900đ; Viền dưới cảng trước: 261.600đ; Xương trong cảng trước 1.006.200đ; Đệm trong cảng trước 379.600đ; Khung đỡ giàn gầm trước 7.849.200đ; Tổng cộng là 20.025.700đ.

Bị đơn anh Phạm Minh T đã được tống đạt đầy đủ các văn ản của Tòa án nhưng không đến Tòa án để tham gia tố tụng và c ng không gửi văn ản trình ày ý kiến cho Tòa án nên không có l i trình ày.

Ngư i có quy n lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguy n Trung H2 trình ày:

Anh H2 thống nhất theo l i trình ày của vợ anh là chị U là yêu cầu anh Phạm Minh T và anh Lê Văn K phải liên đới có trách nhiệm trả lại cho số tiền sữa xe theo ảng áo giá của hãng xe là 82.182.990đ. Ngoài ra anh không còn ý kiến hay yêu cầu nào khác.

Ngư i có quy n lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đoàn Văn L trình ày:

Trước đây anh H1 có điện thoại cho anh L nói anh H1 muốn thuê xe 07 chỗ, anh L mới điện thoại cho anh H2 thì anh H2 nói anh L lấy xe của anh H2 và chị U đi giao cho anh H1, khoảng 19 gi cùng ngày thì anh L chạy xe đến giao cho anh H1. Anh H1 nói lấy xe đưa cho anh T, anh L mới nói là giao xe cho anh H1 ởi vì chỉ iết anh H1 không iết ngư i khác rồi đi về. Đến khoảng 18 gi chiều ngày hôm sau thì anh T có điện thoại cho anh L nói xe xảy ra tai nạn. Anh L kêu anh T chạy xe về nhà của anh xem hư ao nhiêu thì sửa trả lại cho chủ. Đến khoảng 19 gi cùng ngày thì xe chạy về tới nhà anh L, anh L thấy xe ị hư hỏng n ng quá nên anh mới nói cái này để lên hãng xe định giá sữa chữa. Anh L điện thoại cho anh H2 thì anh H2 nói vậy để sáng xuống đem xe lên hãng sửa. Sáng hôm sau anh H2 lên thì anh L với anh H2 dùng mọi cách không khởi động được máy nên đã điện thoại xe cẩu để chở xe lên hãng. Sau khi kiểm tra xe thì nhân viên của hãng nói không thể áo giá được phải tháo ra xem thì mới áo giá được. Ngày hôm sau nữa thì anh L, anh H2, anh H1, anh T và anh K cùng lên hãng để nhận áo giá của hãng xe, số tiền áo giá giống ảng áo giá của chị U đã nộp trong hồ sơ. Sau đó, về nhà của anh L thì anh T với K hứa sẽ trả cho anh H2 một phần, phần còn lại thì từ từ trả nhưng đến nay anh T và anh K vẫn chưa trả được số tiền này cho chị U với anh H2. Sau sự việc thì anh L, anh H1 và anh T có làm một hợp đồng thuê xe và có thỏa thuận việc ồi thư ng.

Nay trong vụ án này anh L không có ý kiến hay yêu cầu gì. Anh T và anh K đã làm hư xe thì phải có trách nhiệm ồi thư ng cho chị U.

Ngư i có quy n lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đ ng u c H1 trình ày:

Anh H1 thống nhất theo l i trình ày của anh L.

Nay trong vụ án này tôi không có ý kiến hay yêu cầu gì. Anh T và anh K đã làm hư xe thì phải có trách nhiệm ồi thư ng cho chị U.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng Liêm có ý kiến: về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán là đúng theo quy định của pháp luật; Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Hội đồng xét xử, thư ký, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp pháp luật; Bị đơn chưa chấp hành đúng pháp luật. Về quan hệ tranh chấp: Tòa án xác định đúng quan hệ tranh chấp của vụ án. Về thẩm quyền: Tòa án nhân dân huyện V ng Liêm thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền.

Hướng giải quyết vụ án:

Anh K là ngư i trực tiếp gây ra tai nạn xe trong vụ án. Trong quá trình giải quyết vụ án thì anh K chỉ đồng ý ồi thư ng cho chị U số tiền là 20.025.700đ, phần còn lại anh K không đồng ý ồi thư ng nhưng trong quá trình giải quyết vụ án anh K không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho sự phải đối với yêu cầu của nguyên đơn. M c khác, sau sự việc xảy ra và khi nhận áo giá sửa chữa xe với số tiền là 82.182.990đ thì anh T không đồng ý

ồi thư ng mà cho rằng anh K là ngư i gây tai nạn nên phải ồi thư ng. Xét thấy, anh T là ngư i trực tiếp đi thuê xe thì anh T phải có trách nhiệm ảo quản tài sản thuê nhưng anh T không làm tròn trách nhiệm nên anh T phải cùng có trách nhiệm ồi thư ng số tiền sữa chữa xe cho chị U. Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 244 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 91, 479, 482 của Bộ luật dân sự và Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị U uộc anh T và anh K phải ồi thư ng cho chị U số tiền sửa chữa xe ô tô 7 chỗ, iển số 64A-030.63 là 82.182.990đ. Về án phí dân sự sơ thẩm anh K và anh T phải nộp theo quy định.

* Tài liệu, chứng cứ trong vụ án:

- Nguyên đơn chị U đã nộp: 01 ảng áo giá sữa chữa.

- Bị đơn anh K đã nộp: Bảng khai ý kiến.

- Bị đơn anh T đã nộp: Không.

- Ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh H1 đã nộp: Bảng khai ý kiến.

- Ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh L đã nộp: Bảng khai ý kiến.

- Ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh H2 đã nộp: Bảng khai ý kiến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ được thể hiện tại hồ sơ được thẩm tra tại phiên Toà. Căn cứ vào kết qu tranh tụng tại phiên Toà. Tòa án nhận định:

Về tố tụng dân sự:

Chị U có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện V ng Liêm, tỉnh Vĩnh Long giải quyết việc tranh chấp hợp đồng thuê xe và yêu cầu ồi thư ng thiệt hại về tài sản giữa chị với anh T và anh K. Theo quy định tại khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện V ng Liêm.

Tòa án nhân dân huyện V ng Liêm, tỉnh Vĩnh Long đã tống đạt đầy đủ các văn ản tố tụng cho ị đơn anh T nhưng anh T vẫn v ng m t không lý do. Tòa án đã triệu tập ị đơn anh T và anh K tham gia phiên tòa xét xử sở thẩm hợp lệ lần thứ hai, nhưng anh T và anh K vẫn v ng m t không vì sự kiện ất khả kháng ho c trở ngại khách quan; Anh H1 có đơn xin v ng m t nên căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án v ng m t ị đơn anh T, anh K và anh H2.

Về nội dung vụ án:

Chị U là ngư i đứng tên chủ sở hữu của xe ô tô 7 chỗ, iển số 64A-030.63. Chị U có giao xe trên cho anh L, anh L có giao xe cho anh H1 và anh H1 có cho anh T thuê xe ô tô trên của chị U vào ngày 28 tháng 9 năm 2018. Giữa chị U và anh T không có trực tiếp g p nhau và thỏa thuận việc thuê xe nhưng anh T có thuê và nhận xe ô tô iển số 64A-030.63 của chị U là có thật. Sau khi anh T nhận xe thì trong th i gian thuê xe đã xảy ra tai nạn.

Chị U có cung cấp hợp đồng thuê xe ngày 28 tháng 9 năm 2018 có xác nhận của Trưởng ấp Hiếu Ngãi, xã Hiếu Thành ngày 15 tháng 10 năm 2018 giữa anh H1, anh L và anh T nhưng hợp đồng được lập sau khi xảy ra tai nạn nên không không phù hợp theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, nội dung trên hợp đồng mang tính chất là thỏa thuận ồi thư ng thiệt hại giữa các đương sự nên Hội đồng xét xử vẫn xem xét đây là một trong các căn cứ để giải quyết vụ án.

Xét thấy, nguyên nhân dẫn đến tại nạn xe trên thì anh T và anh K cùng có lỗi; Bởi lẽ, anh T là ngư i trực tiếp nhận xe thuê nên phải có nghĩa vụ ảo quản tài sản, không để tài sản thuê ị mất mát, hư hỏng; rõ ràng anh T iết việc anh K không đủ điều kiện điều khiển xe ô tô nhưng vẫn để anh K ngồi vào vị trí tài xế của xe trong khi xe còn khởi động và còn chỉ cho anh K cần ga và cần số của xe, anh T iết rõ việc này có thể dẫn đến tai nạn làm hư hỏng tài sản thuê mà không yêu cầu anh K r i khởi vị trí tài xế. Về phía của anh K là ngư i không đủ điều kiện điều khiển xe ( ằng chứng cho thấy rõ nhất là anh K không iết đâu là cần ga và đâu là cần số của xe) nhưng anh K vẫn ngồi vào vị trí của tài xế và đã va chạm với cần ga, cần số của xe nên đã dẫn đến vụ việc tai nạn trên.

Về phần thiệt hại trong vụ tại nạn được xác định theo ảng áo giá ngày 01 tháng 10 năm 2018 của hãng xe là 82.182.990đ. Bởi vì, sau khi xảy ra tai nạn xe đến trước th i điểm chị U khởi kiện tại Tòa án thì anh T và anh K đều thống nhất theo ản áo giá của hãng xe đưa ra; Điều này thể hiện qua việc khi đến nhận áo giá sữa chữa xe thì anh T, anh K cùng đến hãng xe để nhận áo giá, khi nhận ảng áo giá thì anh T, anh K không có ý kiến đối với ảng áo giá và thống nhất sửa chữa xe. Sau khi sữa chữa xe thì anh T, anh K cùng anh H2 là chồng của chị U có ngồi lại để àn ạc việc trả tiền sửa chữa xe cho anh H2 và chị U. Tại hợp đồng thê xe có xác nhận của trưởng ấp Hiếu Ngãi ngày 15 tháng 10 năm 2018 thì anh T c ng thừa nhận số tiền sửa chữa xe là 82.900.000đ, theo anh H và anh L thì trong số tiền này đã ao gồm tiền thuê xe. Tại t tư ng trình ngày 15 tháng 10 năm 2018 do cha của anh T là ông Phạm Văn Chính cung cấp cho Tòa án, ông Phạm Văn Chính xác nhận t tư ng trình này do chính tay anh T viết, trên t tư ng trình anh T thừa nhận số tiền sữa chữa xe là 82.182.990đ.

Anh K có ý kiến chỉ đồng ý ồi thư ng cho chị U số tiền 20.025.700đ, phần còn lại không đồng ý ồi thư ng nhưng trong quá trình giải quyết vụ án đến phiên Tòa xét xử sơ thẩm anh K không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho l i trình ày của anh là có cơ sở nên ý kiến của anh K không được chấp nhận.

Từ những nhận định trên đã có đủ cơ sở để uộc anh T và anh K phải cùng có trách nhiệm ồi thư ng cho chị U và anh H2 số tiền sữa chữa xe ô tô

iển số 64A-030.63 là 82.182.990đ

Chị U tự nguyện xin rút lại yêu cầu anh T và anh K ồi thư ng chi phí tiền cẩu xe, tiền mua vỏ xe, tiền thuê xe cẩu, tiền xăng xe và tiền dịch vụ xe là 10.900.000đ nên đình chỉ đối với yêu cầu này của chị U.

Đối với số tiền thuê xe là 800.000đ thì chị U không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét ý kiến của kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long là có cơ sở để chấp nhận.

AÙn phí daân söï sô thaåm: Anh T và anh K phaûi noäp án phí có giá ngạch là 82.182.990đ x 5% = 4.109.149đ, làm tròn 4.109.000đ.

Vì caùc leõ treân:

QUYEÁT ÑÒNH:

Căn cứ Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 74, Điều 147, Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 91, Điều 479, Điều 482 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tuyeân xöû : Chaáp nhaän yeâu caàu khởi kiện của chị Nguyễn Tố U.

Buộc anh Pha m Minh T và anh Lê Văn K có nghĩa vụ ồi thư ng cho chị Nguyễn Tố U và anh Nguyễn Trung H2 số tiền sữa chữa xe ô tô iển số 64A-030.63 là 82.182.990đ (tám mươi hai triệu một trăm tám mươi hai nghìn chín trăm chín mươi nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu của ngư i được thi hành án ên phải thi hành không tự nguyện thi hành thì hàng tháng phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự.

Đình chỉ đối với yêu cầu của chị Nguyễn Tố U về việc yêu cầu yêu cầu anh Phạm Minh T và anh Lê Văn K ồi thư ng chi phí tiền cẩu xe, tiền mua vỏ xe, tiền thuê xe cẩu, tiền xăng xe và tiền dịch vụ xe là 10.900.000đ (mư i triệu chín trăm nghìn đồng). Đương sự được quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại đối với yêu cầu ị đình chỉ theo quy định của pháp luật.

- AÙn phí daân söï sô thaåm: Buộc anh Phạm Minh T và anh Lê Văn K phaûi noäp án phí sơ thẩm là 4.109.000đ.

Chị Nguyễn Tố U khoâng phaûi noäp tieàn aùn phí. Hoaøn traû laïi cho chị Nguyễn Tố U soá tieàn 2.327.000đ tieàn taïm öùng aùn phí theo bieân lai thu soá N0 0009709 ngaøy 29 thaùng 3 naêm 2019 cuûa Chi cuïc thi haønh aùn daân söï huyeän Vuõng Lieâm.

Tröôøng hôïp baûn aùn, quyeát ñònh ñöôïc thi haønh theo qui ñònh taïi Ñieàu 2 Luaät thi haønh aùn daân söï thì ngöôøi ñöôïc thi haønh aùn daân söï , ngöôøi phaûi thi haønh aùn daân söï coù quyeàn thoaû thuaän thi haønh aùn , quyeàn yeâu caàu thi haønh aùn , töï nguyeän thi haønh aùn hoaëc bò cöôõng cheá thi haønh aùn theo qui ñònh taïi caùc Ñieàu 6,7 vaø Ñieàu 9 Luaät thi haønh aùn daân söï ; thôøi hieäu thi haønh aùn ñöôïc thöïc hieän theo qui ñònh taïi Ñieàu 30 luaät thi haønh aùn daân söï.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong th i hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự v ng m t tại phiên tòa ho c không có m t khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì th i hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được ản án ho c được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ