vanban.org

Bản án 02/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 08/01/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thùy Tr phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thùy Tr 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, đƣợc khấu từ thời hạn tạm giam ngày 28/6/2018 đến ngày 20/7/2018. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Thùy Tr phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thùy Tr phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
———————
Bản án số: 02/2019/HS-ST
Ngày 08 - 01- 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hoàn.

2. Ông Tô Văn Nhung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai, Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Cao Tấn Ngoan - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 01 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 326/2018/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 344/2018/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2018, Quyết định hoãn phiên tòa số 83 ngày 13/11/2018 và Thông báo mở phiên tòa số 13 ngày 18/12/2018, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thị Thùy Tr, sinh năm 1979 tại tỉnh Đồng Nai; thƣờng trú: Số 16/130 k7, phƣờng A, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai; chỗ ở: Số 17/6 khu phố N, phƣờng B, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng; Nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Tấn T, sinh năm 1930 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1942; bị cáo có 05 anh chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1968, nhỏ nhất sinh năm 1972; bị cáo có chồng tên Quách Văn D, sinh năm 1980 và có 01 ngƣời con sinh năm 2008; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 19/8/2016 bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc vì có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chấp hành xong ngày 23/01/2017; bị bắt tạm giam ngày 28/6/2018, ngày 19/7/2018 đƣợc thay đổi biện pháp ngăn chặn: Lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú. Bị cáo vắng mặt tại phiên tòa.

2. Phạm Văn T, sinh năm 1992 tại tỉnh Bình Dƣơng; thƣờng trú: Số 23/9A khu phố B, phƣờng D, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng; Nghề nghiệp: Bảo vệ; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phạm Văn H, sinh năm 1967 và bà Lê Ngọc L, sinh năm 1966; bị cáo có 01 chị ruột, sinh năm 1985; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 28/6/2018, có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng: Ông Trần Dân Thiên Ch, sinh năm 1971; thƣờng trú: Khu phố H, phƣờng B, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Nguyễn Thị Thùy Tr là đối tƣợng nghiện ma túy từ năm 2016. Do không có nghề nghiệp ổn định nên Tr mua ma túy của ngƣời đàn ông tên M không rõ nhân thân, lai lịch tại khu vực gần bƣu điện Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh về phân nhỏ ra bán cho các con nghiện kiếm tiền tiêu xài và mua ma túy về dùng. Ai có nhu cầu mua ma túy thì gọi điện cho Tr qua số 0904757884 để thỏa thuận số lƣợng giá cả và địa điểm nhận ma túy.

Khoảng 00 giờ 00 phút ngày 28/6/2018, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Phạm Văn T sử dụng điện thoại di động sim số 01212576777 gọi cho Tr hỏi mua 300.000 đồng ma túy thì Tr đồng ý và hẹn địa điểm giao tại nơi ở của Tr, T điều khiển xe mô tô biển số 60H3-303.03 đến nơi ở của Tr tại địa chỉ 17/6 khu phố N, phƣờng B, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, Tr đứng trong nhà đƣa qua cửa sổ cho T 01 gói nylon hàn kín bên trong có chứa tinh thể màu trắng và T đƣa cho Tr 300,000 đồng. Mua xong T đi đến khu vực ngã ba Tân Vạn thuộc phƣờng Bình Thắng, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng thì bị lực lƣợng công an phƣờng Bình Thắng bắt quả tang. T khai nhận là vừa mua ma túy của Tr tại số 17/6 khu phố N, phƣờng B, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Tr, Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã Dĩ An thu giữ: 01 gói nylon miệng kéo dính bên trong có tinh thể màu trắng, 01 gói nylon miệng hàn kín bên trong có tinh thể màu trắng; 01 cân tiểu ly màu đen (không có pin); 01 hộp nhựa màu đỏ, trắng không có nắp; 01 ống hút màu vàng một đầu đƣợc cắt nhọn, một đầu hàn kín; 01 ống hút màu xanh một đầu đƣợc cắt nhọn, một đầu hàn kín; 01 ống hút màu trắng một đầu đƣợc cắt nhọn, một đầu hàn kín; 02 cây kéo; 01 con dao để cắt giấy; 01 rổ nhựa màu xanh; 20 túi nylon tự tạo; 04 ống thủy tinh; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá; 01 hộp nhựa màu xanh đƣợc dán băng keo màu vàng.

Qua làm việc, Tr và T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tang vật thu giữ của Phạm Văn T: 01 gói nylon bên trong có tinh thể màu trắng; 01 xe mô tô biển số 60H3-303.03, số khung PEDA – 032877, số máy F10139FMB-032877; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen sim số 01212576777;

Tang vật thu giữ tại nơi ở của Nguyễn Thị Thùy Tr: 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu vàng có sim số 0904757884; 01 gói nylon miệng hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 ống nhựa màu vàng đƣợc hàn kín một đầu, một đầu cắt nhọn; 01 ống nhựa màu xanh đƣợc hàn kín một đầu, một đầu cắt nhọn; 01 cân tiểu ly không có pin; 02 cây kéo; 01 con dao rọc giấy; 20 túi nylon tự tạo; 04 ống thủy tinh; 01 hộp nhựa màu đỏ trắng không có nắp; 01 hộp nhựa màu xanh dán băng keo màu vàng; 01 rổ nhựa màu xanh và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá.

Căn cứ kết luận giám định số 390/MT-PC54 ngày 04/7/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi đến giám định có chữ ký của Phạm Văn T là ma túy có trọng lƣợng 0,2544 gam loại Methamphetamine.

Căn cứ kết luận giám định số 391/MT-PC54 ngày 04/7/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi đến giám định có chữ ký của Nguyễn Thị Thùy Tr là ma túy có trọng lƣợng 3,6123 gam (M1), 0,2267 gam (M2) loại Methamphetamine.

Đối với xe mô tô biển số 60H3-303.03, số khung PEDA – 032877, số máy F10139FB-032877 do T mua lại của ngƣời khác chƣa làm thủ tục sang tên đổi chủ. Theo kết quả tra cứu của Phòng cảnh sát giao thông công an tỉnh Bình Dƣơng xe mô tô biển số 60H3-303.03 không tìm thấy dữ liệu tìm kiếm. Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã Dĩ An đã đăng báo công khai truy tìm chủ sở hữu vào các ngày 25, 26, 27 tháng 7 năm 2018 nhƣng đến nay chƣa có ai đến nhận.

Đối với đối tƣợng tên M chƣa rõ nhân thân, lai lịch bán ma túy cho Tr tại khu vực bƣu điện Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh, Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã Dĩ An xác minh làm rõ xử lý sau.

Tại cáo trạng số 330/CT - VKS ngày 16 tháng 10 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thùy Tr về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thùy Tr mức án từ 02 (hai) năm đến 03 (ba) năm tù; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Phạm Văn T mức án từ 01 (một) năm đến 02 (hai) năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) phong bì đƣợc niêm phong có trọng lƣợng ma túy còn lại sau giám định là 0,1183 gam;

- 01 (một) phong bì đƣợc niêm phong có trọng lƣợng ma túy còn lại sau giám định là 2,5985 gam (M1); 0,1019 gam (M2)

Sim số 01212576777, 0904757884; 01 ống nhựa màu vàng đƣợc hàn kín một đầu, một đầu cắt nhọn; 01 ống nhựa màu xanh đƣợc hàn kín một đầu, một đầu cắt nhọn; 01 ống nhựa màu trắng đƣợc hàn kín một đầu, một đầu cắt nhọn; 01 cân tiểu ly không có pin; 02 cây kéo; 01 con dao rọc giấy; 20 túi nylon tự tạo; 04 ống thủy tinh; 01 hộp nhựa màu đỏ trắng không có nắp; 01 hộp nhựa màu xanh dán băng keo màu vàng; 01 rổ nhựa màu xanh và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá.

- Tịch thu sung quỹ nhà nƣớc: 01 xe mô tô biển số 60H3-303.03, số khung PEDA – 032877, số máy F10139FMB-032877; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen; 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung màu vàng

Tại phiên tòa, trong phần thực hiện nói lời sau cùng: Bị cáo T xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng; ngƣời làm chứng không khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Ngày 19/7/2018 bị cáo Nguyễn Thị Thùy Tr đƣợc thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cƣ trú nhƣng bị cáo không chấp hành theo quy định pháp luật và đã bỏ trốn. Ngày 14/11/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thị xã Dĩ An đã ra Quyết định truy nã số 03 đối với bị cáo Nguyễn Thị Thùy Tr nhƣng vẫn chƣa có kết quả. Vì vậy, Tòa án căn cứ vào khoản 2 Điều 290 Bộ luật Tố tụng Hình sự để xét xử vắng mặt bị cáo Tr.

Về nội dung: Nguyễn Thị Thùy Tr là đối tƣợng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định. Để có tiền mua ma túy sử dụng và kiếm tiền tiêu xài, Tr đã mua ma túy của một ngƣời đàn ông tên M (không rõ nhân thân lai lịch) đem về chia nhỏ để bán cho các đối tƣợng nghiện kiếm lời.

Ngày 28/6/2018, Phạm Văn T (cũng là đối tƣợng nghiện ma túy) đã dùng số điện thoại 01212576777 liên lạc vào số điện thoại 0904757884 của Tr, sau đó điều khiển xe mô tô biển số 60H3-303.03 đến nơi ở của Tr tại số 17/6 khu phố N, phƣờng B, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng để mua 300.000 đồng tiền ma túy về sử dụng. Tại đây, Tr đƣa qua cửa sổ cho T 01 (một) bịch nylon hàn kín bên trong có ma túy, trọng lƣợng là 0,2544 gam loại Methamphetamine, T giao cho Tr số tiền 300.000 đồng. Trên đƣờng về, khi T đi đến ngã ba Tân Vạn thuộc khu phố Ngãi Thắng, phƣờng Bình Thắng, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng thì bị bắt giữ, T khai nhận đã mua ma túy của Tr. Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thị xã Dĩ An tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Tr đã thu giữ 02 (hai) gói nylon miệng kéo dính bên trong là ma túy có trọng lƣợng 3,6123gam (M1) và 0,2267 gam (M2) loại Methamphetamine.

Tại phiên tòa vắng mặt bị cáo Tr. Tuy nhiên, lời khai nhận của bị cáo T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của chính bị cáo và lời khai của bị cáo Tr tại cơ quan điều tra (BL số 119, 120, 135, 136, 137, 138) cùng tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án là biên bản nhận dạng (BL số 92, 93), Bản kết luận giám định (BL số 61, 62), Biên bản khám nghiệm hiện trƣờng (BL số 70, 71), Biên bản khám xét (BL số 73, 74) …đã có đủ cơ sở xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Thùy Tr bán cho Phạm Văn T 0,2544 gam ma túy vào ngày 28/6/2018 đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định nhƣ sau

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

……”

Hành vi của bị cáo Phạm Văn T mua 0,2544 gam ma túy của bị cáo Tr về tàng trữ để sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định nhƣ sau:

“ Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…….

c) Heroine, Cocaine, Mathamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1g đến dưới 05gam;

……”.

Nhƣ vậy, Cáo trạng số 330/CT - VKS ngày 16 tháng 10 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo thực hiện đã xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của Nhà nƣớc về chất ma tuý, gây tác hại cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Hiện nay, Đảng, Nhà nƣớc và toàn xã hội ra sức tuyên truyền cho mọi ngƣời hiểu biết về tác hại của ma túy và ra sức phòng chống, các bị cáo biết hành vi tàng trữ, mua bán chất ma túy là trái pháp luật nhƣng vì nghiện ngập nên các bị cáo cố tình thực hiện để nhằm phục vụ cho nhu cầu của bản thân. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo với mức án tù tƣơng xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đƣợc xem xét khi quyết định hình phạt: Tại cơ quan điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa, bị cáo T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T.

Đối với bị cáo Tr, sau khi đƣợc Cơ quan tiến hành tố tụng thay đổi biện pháp ngăn chặn, bị cáo không chấp hành các quy định của pháp luật, bỏ trốn khỏi địa phƣơng, gây khó khăn cho việc tiến hành tố tụng, điều này thể hiện sự coi thƣờng pháp luật của bị cáo. Tuy nhiên, tại cơ quan điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo và bị cáo phạm tội khi đang mang thai. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng điểm s, n khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Tr.

Về nhân thân: Các bị cáo là ngƣời nghiện ma túy.

Xử lý vật chứng:

- Xét 01 (một) phong bì đƣợc niêm phong có trọng lƣợng ma túy còn lại sau giám định là 0,1183gam; 01 (một) phong bì đƣợc niêm phong có trọng lƣợng còn lại sau giám định là 2,5985gam (M1); 0,1019 gam (M2) loại Methamphetamine là vật cấm lƣu thông, cần tịch thu tiêu hủy.

- Xét sim điện thoại số 01212576777, 0904757884; 01 ống nhựa màu vàng đƣợc hàn kín một đầu, một đầu cắt nhọn; 01 ống nhựa màu xanh đƣợc hàn kín một đầu, một đầu cắt nhọn; 01 ống nhựa màu trắng đƣợc hàn kín một đầu, một đầu cắt nhọn; 01 cân tiểu ly không có pin; 02 cây kéo; 01 con dao rọc giấy; 20 túi nylon tự tạo; 04 ống thủy tinh; 01 hộp nhựa màu đỏ trắng không có nắp; 01 hộp nhựa màu xanh dán băng keo màu vàng; 01 rổ nhựa màu xanh và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá là những công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội không có giá trị sử dụng nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy;

- Xét 01 xe mô tô biển số 60H3-303.03, số khung PEDA – 032877, số máy F10139FB-032877 không tìm đƣợc chủ sở hữu; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen; 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu vàng là phƣơng tiện, công cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu sung quỹ nhà nƣớc.

Mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên có cơ sở chấp nhận.

Đối với tên M chƣa rõ nhân thân, lai lịch, Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã Dĩ An xác minh làm rõ xử lý sau.

Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hộiquy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thùy Tr phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s, n khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thùy Tr 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, đƣợc khấu từ thời hạn tạm giam ngày 28/6/2018 đến ngày 20/7/2018.

2. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/6/2018.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì đƣợc niêm phong có trọng lƣợng Methamphetamine còn lại sau giám định là 0,1183 gam; 01 (một) phong bì đƣợc niêm phong có trọng lƣợng Methamphetamine còn lại sau giám định là 2,5985gam (M1); 0,1019 gam (M2); sim số 01212576777, 0904757884; 01 ống nhựa màu vàng đƣợc hàn kín một đầu, một đầu cắt nhọn; 01 ống nhựa màu xanh đƣợc hàn kín một đầu, một đầu cắt nhọn; 01 ống nhựa màu trắng đƣợc hàn kín một đầu, một đầu cắt nhọn; 01 cân tiểu ly không có pin; 02 cây kéo; 01 con dao rọc giấy; 20 túi nylon tự tạo; 04 ống thủy tinh; 01 hộp nhựa màu đỏ trắng không có nắp; 01 hộp nhựa màu xanh dán băng keo màu vàng; 01 rổ nhựa màu xanh và bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá.

- Tịch thu sung quỹ nhà nƣớc 01 xe mô tô biển số 60H3-303.03, số khung PEDA – 032877, số máy F10139FB-032877; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen; 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu vàng.

(Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/10/2018, BL 153).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thị Thùy Tr, Phạm Văn T, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Phạm Văn T đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể tƣ̀ ngày tuyên án . Bị cáo Nguyễn Thị Thùy Tr đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ