vanban.org

Bản án 02/2019/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Kiến An, TP. Hải Phòng Tuyên án 21/02/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo Phạm Thị Anh T số tiền 5.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao bì được niêm phong trong bì thư 559/2018/PC09 của Công an thành phố Hải Phòng; 01 túi màu trắng sữa có khóa kéo bằng nhựa, kích thước 5x10cm, trên có ghi chữ Lipice đã niêm phong; tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thị Anh T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo Phạm Thị Anh T số tiền 5.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2019/HS-ST
Ngày 21-02-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hoàng Minh Thông

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Công Biên

Bà Hoàng Thị Chính.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Việt Anh - Thư ký Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Huy Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2019/TLST-HS ngày 18 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2019/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo:

Phạm Thị Anh T, sinh ngày 19 tháng 9 năm 1981 tại Hải Phòng. ĐKNK: Số 42 P, quận H, thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: Số 265 đường T, phường N, quận K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Bá L và bà Nguyễn Thị L; vợ chồng bị cáo đã ly hôn, có 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ ngày 12-10-2018 tạm giam ngày 17-10-2018 tại Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 10-10-2018 Phạm Thị Anh T mua 03 gam ma túy đá đựng trong 09 túi nilon kích thước 1x 1,5cm quấn băng dính màu đen và màu xanh bên ngoài của người thanh niên không quen biết tại ngã 4 Hoàng Minh Thảo, thành phố Hải Phòng với giá 2.400.000đ. Đến tối cùng ngày, T bán 01 túi ma túy trong số 09 túi ma túy đã mua cho 01 nam thanh niên không quen biết với giá 300.000đ tại khu vực Cầu Nguyệt, Kiến An, Hải Phòng. Người này gọi điện thoại cho T theo số máy đang dùng tại điện thoại Nokia màu đen. Ngoài ra T còn khai trong ngày 12-10-2018 T nhận được điện thoại của nam thanh niên tự xưng tên là Thành gọi vào điện thoại Nokia màu đen, nhà ở huyện An Lão hỏi mua ma túy nhưng T chưa bán được cho người này. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô Yamaha biển kiểm soát 15N1-001.15 đi tìm chỗ học thêm cho con, khi đi T mang theo 08 túi ma túy. Khi đến trước cửa nhà số 16 Phan Đăng Lưu, Kiến An thì T bị Công an quận Kiến An kiểm tra, bắt quả tang.

Tang vật thu giữ gồm:

- Thu giữ tại lòng bàn tay trái của T 01 túi nilon kích thước 1x1,5cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng, bên ngoài quấn băng dính màu xanh (mẫu số 01);

- Thu giữ tại móc khóa phía trên võng xe của T 01 túi màu trắng sữa có khóa kéo bằng nhựa, kích thước 5x10cm, trên có ghi chữ “Lipice”, bên trong có chứa 07 túi nilon kích thước 1x1,5cm chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy, trong đó có 06 túi nilon bên ngoài quấn băng dính màu đen và 01 túi nilon bên ngoài quấn băng dính màu xanh (mẫu số 02).

Ngoài ra còn thu giữ của T: 01 điện thoại Nokia màu đen; 01 điện thoại Iphone 6s Plus màu hồng; 4.565.000đ; 01 xe mô tô Yamaha biển kiểm soát 15N1-001.15; thu giữ nước tiểu của Phạm Thị Anh T để phục vụ điều tra (mẫu số 03).

Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Kiến An đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Thị Anh T nhưng không thu giữ được vật chứng liên quan đến ma túy.

Tại Kết luận giám định số 559/KLGĐ ngày 16-10-2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận:

- Mẫu tinh thể số 01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,3111 gam, là loại Methamphetamine;

- Mẫu tinh thể số 02 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 2,1633 gam, là loại Methamphetamine;

- Mẫu nước tiểu (mẫu số 03) gửi giám định không tìm thấy các chất ma túy.

Ngày 18-01-2019 tại bản Cáo trạng số 02/CT-VKS của Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng truy tố Phạm Thị Anh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An giữ quyền công tố luận tội:

Giữ nguyên quyết định truy tố đối với Phạm Thị Anh T về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Căn cứ khoản 1, 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015; đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Phạm Thị Anh T từ 02 (hai) năm đến 03 (ba) năm tù; phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo số tiền 5.000.000đ đến 10.000.000đ.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao bì được niêm phong trong bì thư 559/2018/PC09 của Công an thành phố Hải Phòng, 01 túi màu trắng sữa có khóa kéo bằng nhựa, kích thước 5x10cm, trên có ghi chữ Lipice; tịch thu sung quỹ 01 điện thoại Nokia vỏ nhựa màu đen; trả lại Phạm Thị Anh T 01 điện thoại Iphone 6s Plus màu hồng và số tiền 4.565.000đ nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Thị Anh T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Phạm Thị Anh T nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình bị cáo, một mình nuôi 02 con nhỏ để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, trở thành công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Kiến An, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Kiến An và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Bị cáo Phạm Thị Anh T có hành vi tàng trữ trái phép 2,4744 gam Methamphetamine với mục đích để bán. Hành vi của bị cáo đã vi phạm Điều 251 Bộ luật Hình sự, phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Như vậy Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo về tội danh theo điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma túy của nhà nước mà còn tạo ra một lớp người nghiện, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, gây mất trật tự, trị an xã hội và là một trong các nguyên nhân làm phát sinh nhiều vi phạm pháp luật khác. Vì vậy, pháp luật yêu cầu phải xử lý nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo và đáp ứng yêu cầu phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Thị Anh T nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu; tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; vợ chồng bị cáo đã ly hôn, một mình bị cáo nuôi hai con nhỏ. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Cần áp dụng khoản 5 Điề 251 Bộ luật hình sự, phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo Phạm Thị Anh T số tiền 5.000.000đ để tịch thu sung quỹ nhà nước để thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô biển kiểm soát 15N1-001.15 quá trình điều tra xác định là của anh Ngô Xuân Cường, anh Cường không biết việc Tú phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Kiến An đã xử lý vật chứng, trả lại cho anh Ngô Xuân Cường quản lý sử dụng là phù hợp pháp luật. Vật chứng của vụ án còn lại gồm: Số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao bì được niêm phong trong bì thư 559/2018/PC09 của Công an thành phố Hải Phòng; 01 túi màu trắng sữa có khóa kéo bằng nhựa, kích thước 5x10cm, trên có ghi chữ Lipice đã niêm phong dùng để đựng 07 túi ma túy; 01 điện thoại Nokia vỏ nhựa màu đen; 01 điện thoại Iphone 6s Plus màu hồng và số tiền 4.565.000đ. Đối với số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao bì được niêm phong trong bì thư 559/2018/PC09 của Công an thành phố Hải Phòng; 01 túi màu trắng sữa có khóa kéo bằng nhựa, kích thước 5x10cm, trên có ghi chữ Lipice đã niêm phong cần tịch thu tiêu hủy; đối với 01 điện thoại Nokia vỏ nhựa màu đen đây là phương tiện Tú phục vụ việc bán ma túy cần tịch thu sung quỹ nhà nước. Đối với số tiền 4.565.000đ và 01 điện thoại Iphone 6s Plus xét không liên quan đến tội phạm cần trả lại cho Phạm Thị Anh T nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với nam thanh niên bán ma túy cho Phạm Thị Anh T tại Ngã 4 Hoàng Minh Thảo và nam thanh niên mua 01 túi ma túy của Tú vào tối ngày 10-10-2018 và nam thanh niên tên là Thành nhà ở khu vực huyện An Lão, Hải Phòng hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Kiến An tiếp tục điều tra, làm rõ và xử lý sau là phù hợp pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Phạm Thị Anh T 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 12-10-2018. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (bốn mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo việc thi hành án.

Phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo Phạm Thị Anh T số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng) để tịch thu sung quỹ nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao bì được niêm phong trong bì thư 559/2018/PC09 của Công an thành phố Hải Phòng; 01 túi màu trắng sữa có khóa kéo bằng nhựa, kích thước 5x10cm, trên có ghi chữ Lipice đã niêm phong; tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại Nokia vỏ nhựa màu đen; trả lại Phạm Thị Anh T 01 điện thoại Iphone 6s Plus màu hồng và số tiền 4.565.000đ (bốn triệu năm trăm sáu mươi lăm nghìn đồng) nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án theo Biên bản giao nhận vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.

Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Phạm Thị Anh T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ