vanban.org

Bản án 02/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 08/01/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn V phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn V 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/7/2018. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 589 Bộ luật Dân sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn V phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 140 Bộ luật hình sự năm 19…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn V phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LÂM HÀ
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2019/HS - ST
Ngày: 08-01-2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân: + Ông K’Dung

+ Bà Trần Thị Hằng

- Thư ký phiên toà: Ông Phan Trọng Thắng – là Thư ký Toà án nhân dân huyện Lâm Hà.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tham gia phiên tòa: ông Hồ Đạt Quyết - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 01 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 94/2018/TLST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2018/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo:

Hoàng Văn V; sinh năm 1997; tại Sơn La; Nơi cư trú: Bản N, xã B, huyện T, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn Hạnh, đã chết và bà Lê Thị Hoàng; gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con út trong gia đình.

Tiền án, tiền sự: không

Nhân thân: Tại bản án số 18/2017/HSST ngày 28/11/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt bị cáo 12 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản, thời hạn tù tính từ ngày 27/7/2017.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/7/2018. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại:

+ Anh Nguyễn Doãn Anh D

sinh năm: 1999.

Địa chỉ: thôn Q, xã P, huyện L, Lâm Đồng.

- Người làm chứng:

+ Ông Nguyễn Phúc S

sinh năm: 1972.

Địa chỉ: thôn Q, xã P, huyện L, Lâm Đồng.

(ông Sáng có mặt tại phiên tòa, anh Dũng vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào ngày 20/6/2017, ông Nguyễn Phúc S gặp Hoàng Văn V ở khu vực trước cổng Công an huyện Lâm Hà, Vhỏi tìm việc làm, vì cần người làm nên ông Sáng nhận Vvề làm công cho gia đình. Trước đó ở Bệnh viện thành phố Sơn La, Vđã lấy trộm giấy tờ của anh Bùi Hoàng Bảo Trung rồi sau đó đã sử dụng tên Trung cùng các thông tin trong giấy phép lái xe mô tô hạng A2 để xin việc làm nên khi nhận làm cho ông Sáng Vnói tên mình là Trung và đưa cho ông Sáng xem 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A2 mang tên Bùi Hoàng Bảo Trung có ảnh của Trung mặc trang phục Công an nên Vnói trước đây Vlàm trong ngành Công an nhưng do hoàn cảnh gia đình và sức khỏe yếu nên đã ra khỏi ngành, đồng thời nói giấy tờ tùy thân đã để ở Trung tâm giới thiệu việc làm Tâm Đức Lộc ở khu phố Thăng Long, thị trấn Nam Ban, huyện Lâm Hà khi đến xin việc. Sau khi đến nhà ông Sáng để làm thì được ông Sáng đề nghị Vđi đăng ký tạm trú, Vsợ bị phát hiện nên viện lý do đau bụng và hẹn hôm khác để không phải đi đăng ký. Đến sáng ngày 22/6/2017, V xin nghỉ làm để đi lấy giấy tờ tùy thân, khi con trai ông Sáng là Nguyễn Doãn Anh D điều khiển chiếc xe mô tô biển kiểm soát 49D1-269.98 đi thi tốt nghiệp phổ thông ở trường Phổ thông trung học Lê Quý Đôn thuộc thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà thì Vxin đi cùng. Khi đến trường của Dũng thì lúc này Vnói Dũng cho mượn xe để đi đến trung tâm giới thiệu việc làm Tâm Đức Lộc. Dũng không nghi ngờ gì đồng ý đưa cho V xe cùng với giấy tờ xe và chỉ đường cho Vũ. Vđiều khiển xe chạy về hướng Đà Lạt và trên đường đi xe hết xăng nên Vhỏi bán chiếc xe trên cho một cửa hàng mua bán xe máy cũ với giá 4.800.000đồng, số tiền này Vdùng tiêu xài cá nhân hết và sau đó đón xe về Sơn La.

Ngày 14/8/2017, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lâm Hà định giá chiếc xe mô tô hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 49D1-269.98 có giá trị 16.792.000đồng.

Tại bản cáo trạng số 02/CT-VKS ngày 11/12/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà để xét xử bị can Hoàng Văn V về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, không khiếu nại hay thắc mắc gì về nội dung bản cáo trạng.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Hoàng Văn V về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Hoàng Văn V từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, trong đơn có thể hiện yêu cầu bị cáo phải bồi thường giá trị chiếc xe theo kết quả định giá là 16.792.000đồng là phù hợp nên đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Dũng 16.792.000đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện Lâm Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì và không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vào buổi sáng ngày 22/6/2017, bị cáo Hoàng Văn V đã mượn xe mô tô biển số 49D1-269.98 của anh Nguyễn Doãn Anh D, sau khi mượn được xe của anh Dũng bị cáo đã nảy sinh ý định bán chiếc xe trên để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Vì vậy, khi nhìn thấy một cửa hàng mua bán trao đổi xe mô tô thì bị cáo đã có hành vi bán chiếc xe của anh Dũng cho cửa hàng trên được 4.800.000đồng, số tiền này bị cáo đã tiêu xài cá nhân hết. Chiếc xe bị cáo chiếm đoạt của anh Dũng có giá trị là 16.792.000đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và phù hợp với những tài liệu chứng cứ khác được phản ánh trong hồ sơ vụ án.

Hành vi của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân về tài sản, làm cho nhân dân hoang mang lo lắng, đồng thời tác động xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội tại địa phương.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, bị cáo là người còn trẻ nhưng không lo tu chí làm ăn để có một công việc ổn định mà bị cáo đi lang thang, không có nơi ở ổn định. Trong thời gian ngắn từ ngày 07/6/2017, sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ở thành phố Sơn La, bị cáo liền bỏ trốn vào huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng thì ngày 22/6/2017 bị cáo lại tiếp tục có hành vi chiếm đoạt tài sản là chiếc xe mô tô của anh Dũng để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Hành vi của bị cáo thể hiện sự táo bạo, khi ông Sáng gặp bị cáo tại khu vực cổng công an huyện Lâm Hà lợi dụng sự mất cảnh giác của ông Sáng bị cáo đã đưa giấy phép lái xe tên Bùi Hoàng Bảo Trung do bị cáo trộm cắp của người khác từ trước cho ông Sáng và nói mình tên là Trung khiến ông Sáng tin tưởng bị cáo tên là Trung và đưa về nhà. Sau khi về nhà ông Sáng thì đến ngày thứ ba bị cáo xin quá giang xe của con trai ông Sáng là anh Nguyễn Doãn Anh D và sau đó là mượn xe của anh Dũng theo bị cáo là để đi lấy giấy tờ ở công ty Tâm Đức Lộc. Khi đã mượn được xe của anh Dũng bị cáo đã nảy sinh ý định bán xe của anh Dũng để lấy tiền tiêu xài cá nhân nên khi thấy trên đường đi có cửa hàng mua bán xe máy bị cáo đã mang xe vào bán được 4.800.000đồng. Sau đó bị cáo đã bỏ trốn về Sơn La và bị công an bắt tại tại thành phố Sơn La. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trước ngày 01/01/2018 nên cần áp dụng Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 đối với bị cáo. Từ những nhận định trên Hội đồng xét xử xác định hành vi của bị cáo Hoàng Văn V đã phạm vào tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

Bị cáo là đối tượng không có nơi ở và công việc ổn định, trong thời gian ngắn đã liên tiếp thực hiện hành vi phạm tội, nên cần chấp nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người biết sống tuân thủ pháp luật.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo không có bố, mẹ bị cáo thường xuyên ốm đau bệnh tật, bị cáo là người dân tộc thiểu số nên nhận thức về pháp luật có phần hạn chế. Vì vậy, cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 làm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là phù hợp

Về trách nhiệm dân sự: Chiếc xe mô tô biển số 49D1-269.98 sau khi bị cáo chiếm đoạt của anh Dũng thì bị cáo đã bán không thu hồi được, chiếc xe trên theo kết quả định giá của cơ quan chuyên môn có giá trị 16.792.000đồng. Tại phiên tòa hôm nay, anh Dũng vắng mặt nhưng trong đơn đề nghị xét xử vắng mặt anh Dũng yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho anh giá trị chiếc xe theo mức giá cơ quan chuyên môn đã định giá là 16.792.000đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường số tiền trên cho anh Dũng nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Xét hoàn cảnh bị cáo khó khăn nên miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn V phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn V 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/7/2018.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 589 Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Hoàng Văn V phải có trách nhiệm bồi thường cho anh Nguyễn Doãn Anh D số tiền là 16.792.000đồng (Mười sáu triệu bảy trăm chín hai nghìn đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án khi án đã có hiệu lực pháp luật, bên phải thi hành án còn phải trả số tiền lãi, tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp và quản lý án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Hoàng Văn V phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.

Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (08/01/2019), riêng người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ