vanban.org

Bản án 02/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 04/04/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lý Thành N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị cáo Lý Thành N phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại tính mạng cho gia đình Vương Văn Ssố tiền là 150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng) nhưng được trừ vào số tiền 150.000.000đ ((một trăm năm mưươi triệu đồng) mà bị cáo Lý Thành N đã tạm nộp để thi hàn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý thành N vi phạm QĐTGGTĐB - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lý Thành N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt; Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ
TỈNH L
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2019/HS-ST
Ngày: 04-4-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ – TỈNH L

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà Giang

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đặng Văn Dũng

Ông Trịnh Hữu Vĩnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Khánh Thành – là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Đ - tỉnh L.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ - tỉnh L tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ - tỉnh L xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2019/TLST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2019/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:

Lý Thành N (tên gọi khác: không có) – sinh năm: 1997; Tại: L;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi sinh sống hiện nay: Thôn 2, xã H, huyện Đ, tỉnh L;

Nghề nghiệp: Làm nông;

Trình độ văn hóa: 10/12; Giới tính: Nam;

Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: không;

Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Lý Văn H và bà Đinh Thị B;

Vợ con: Chưa có

Bị cáo có 04 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1980, nhỏ nhất là bị cáo;

Tiền án, tiền sự: không có;

Bị cáo hiện đang được tại ngoại tại địa phương theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 01/2019/HSST-LCĐKNCT ngày 04/3/2019 của Tòa án nhân dân huyện Đ – tỉnh L (có mặt).

- Bị hại: Vương Văn S- sinh năm 1979 (đã chết)

Đại diện hợp pháp của người bị hại: Ông Vương Văn P– sinh năm: 1950 (Cha đẻ của bị hại)

Trú tại: Thôn 2, xã H, huyện Đ, tỉnh L

(có mặt tại phiên tòa)

- Người làm chứng:

1. Anh Đinh Quang T – Sinh năm 1994

Trú tại: Thôn 2, xã H, huyện Đ, tỉnh L

(Có mặt tại phiên tòa)

2. Anh Nguyễn Đức P – sinh năm 1990

Trú tại: Thôn 3, xã L, tp. B, tỉnh L.

(Có mặt tại phiên tòa)

3. Anh Liên Kim Hải B – sinh năm 1982

Trú tại: Khu vực B, phường P, quận Ô , tp. C

(vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Lý Xuân P – sinh năm 1987

Trú tại: Thôn 2, xã H, huyện Đ, tỉnh L

(Có mặt tại phiên tòa)

2. Ông Hà Văn T – sinh năm 1973

Trú tại: 466/4/7 khu phố 8, phường H, tp. B, tỉnh Đ

(vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 23h00 ngày 25/08/2018 tại Km 86+ 400, Quốc lộ 20 thuộc thôn 1, xã H, huyện Đ, tỉnh L. Lý Thành N điều khiển xe mô tô biển số 49M3 - 1631 chở theo phía sau anh Vương Văn S, sinh năm: 1979, Nơi cư trú: thôn 2, xã H, huyện Đ, tỉnh L lưu thông theo hướng Đồng Nai đi thành phố Bảo Lộc. Khi đến đoạn đường trên thì gặp xe ô tô biển số 60C - 048.34 do anh Liên Kim Hải B, sinh năm: 1982, Nơi cư trú: Khu vực B, phường P, quận Ô, thành phố C điều khiển theo hướng ngược lại, có bật đèn chiếu sáng. N bị lóa mắt nên xe mô tô do N điều khiển đã va chạm vào phần hông bên trái (bên tài) của xe ô tô biển số 60C - 048.34. Hậu quả, xe mô tô do Lý Thành N điểu khiển té ngã và làm anh Vương Văn S bị thương nặng và chết tại bệnh viện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

Tại hiện trường vụ án thể hiện: Hiện trường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường thuộc Km 86+400 Quốc lộ 20, thuộc thôn 1, xã H, huyện Đ, tỉnh L. Lấy hướng đi từ tỉnh Đồng Nai đi thành phố Bảo Lộc tỉnh L làm hướng khám nghiệm. Đây là đoạn đường thẳng không bị che khuất tầm nhìn từ hai phía, mặt đường bằng bê tông nhựa nóng, bằng phẳng rộng 7m, giữa tim đường có vạch sơn vàng đứt quãng phân chia phần đường dành cho hai dòng phương tiện chạy ngược chiều nhau mỗi phần rộng 3,5m, hai bên đường có lề đường cứng rộng 2m.

Vị trí nạn nhân, phương tiện và các dấu vết tai nạn để lại tại hiện trường như sau:

- Nạn nhân Vương Văn S: sau tai nạn đã được đưa đi cấp cứu khỏi hiện trường. Công tác khám nghiệm xác định nạn nhân nằm ở lề đường cứng bên phải, nằm song song với chiều đường. Đầu nạn nhân hướng về thành phố Bảo Lộc, chân hướng về tỉnh Đồng Nai, đầu nạn nhân cách trục bánh trước xe mô tô là 6,3m, cách biển báo hiệu đường bộ là 12,4m, cách mép đường phải là 1,9m.

- Xe mô tô 49M3-1631: nằm ngã nghiêng bên phải ở phần đường bên phải. Đầu xe hướng về tim đường, đuôi xe hướng về mép đường phải. Trục bánh trước xe mô tô cách mép đường phải là 2,9m, cách đầu nạn nhân là 6,3m, trục bánh sau xe mô tô cách mép đường phải là 1,7m.

- Vết cày: tại hiện trường để lại vết cày đứt quãng có chiều hướng từ tỉnh Đông Nai đi thành phố Bảo Lộc có chiều dài 22m, đầu vết cày cách mép đường phải là 3,6m, đuôi vết cày kết thúc tại trục để chân phía trước bên phải xe mô tô biển số 49M3-1631 cách mép đường phải là 2,3m.

- Tại hiện trường xác định có hai mảnh vỡ của xe ô tô:

+ Vị trí mảnh vỡ một: nằm ở phần đường bên phải, cách mép đường phải là 0,65m, cách đầu vết cày là 8,2m cách trụ Km 86+400 là 9,2m.

+ Vị trí mảnh vỡ hai: nằm ở phần đường bên trái, cách mép đường phải là 6,4m cách mảnh vỡ một là 5,7m.

- Xe ô tô biển số 60B - 04834 sau va chạm đã rời khởi hiện trường.

- Căn cứ vào các vị trí, dấu vết tại hiện trường xác định vùng va chạm đầu tiên giữa xe ô tô biển số 60B-04834 và xe mô tô biển số 49M3-1631 nằm ở phần đường bên trái theo hướng chuẩn, tâm vùng va chạm cách mép đường phải là 4,25m, cách đầu vết cày là 7,5m, cách trụ Km 86+400 là 12,2m.

- Công tác khám nghiệm tử thi thì tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 239/2018/TT ngày 04/09/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh L kết luận: Nguyên nhân chết của anh Vương Văn S là: đa chấn thương do tai nạn giao thông.

- Kết quả giám định cơ chế hình thành dấu vết:

Ngày 26/8/2018 Cơ quan CSĐT - Công an huyện Đ ra Quyết định trưng cầu giám định số 50A trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh L để khám nghiệm và xác định cơ chế hình thành dấu vết của xe mô tô 49M3-1631 và xe ô tô Biển số 60B-04834; vùng va chạm đầu tiên giữ xe mô tô 49M3-1631 và xe ô tô Biển số 60B-04834; chiều hướng lưu thông của xe mô tô 49M3-1631 và xe ô tô Biển số 60B-04834; tốc độ di chuyển của xe mô tô 49M3-1631 và xe ô tô Biển số 60B-04834 tại thời điểm xảy ra tai nạn.

Tại bản kết luận giám định số 1730/GĐ-PC09 ngày 09/10/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh L kết luận:

- Vết trượt xước kim loại kèm mất sơn gồm hai đường chếch dọc và biến dạng kim loại, hướng mặt trước ra sau tại mặt dưới chắn bùn của bánh sau bên trái của xe ô tô biển số 60B-04834 phù hợp với vết dịch chuyển lõi kim loại đầu tay nắm bên trái hướng từ phải sang trái, kèm cong gập tay lái hướng từ trước ra sau của xe mô tô 49M3-1631.

- Không đủ cơ sở kết luận vùng va chạm đầu tiên trên mặt đường giữa xe ô tô Biển số 60B-04834 và xe mô tô 49M3-1631 vào thời điểm xảy ra tai nạn giao thông.

- Vào thời điểm xảy ra tai nạn giao thông giữa xe ô tô Biển số 60B-04834 và xe mô tô 49M3-1631 lưu thông ngược chiều.

+ Xe mô tô 49M3-1631 lưu thông trên quốc lộ 20 theo hướng từ tỉnh Đồng Nai về hướng thành phố Bảo Lộc, tỉnh L.

+ Xe ô tô Biển số 60B-04834 lưu thông trên quốc lộ 20 theo hướng từ thành phố Bảo Lộc, tỉnh L về hướng tỉnh Đồng Nai.

- Không đủ cơ sở kết luận tốc độ của xe ô tô Biển số 60B-04834 và xe mô tô 49M3-1631 vào thời điểm xảy ra tai nạn giao thông.

Qua điều tra xác định Lý Thành N chưa được cấp giấy phép lái xe theo quy định.

Tại bản cáo trạng số 02/CT-VKS-TA ngày 24 tháng 02 năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ - tỉnh L truy tố bị cáo Lý Thành N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa bị cáo Lý Thành N đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo Lý Thành N đã thành khẩn khai nhận về hành vi gây tai nạn của mình đã gây thiệt hại đến tính mạng của người khác, có thái độ ăn năn, hối lỗi về hành vi mà mình đã gây ra; Ngày 20/09/2018, Lý Thành N cùng gia đình đã bồi thường trách nhiệm dân sự số tiền là 150.000.000đ, chị Phùng Thị N\ (vợ anh S) đã nhận và viết đơn bãi nại và đơn miễn truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên đến ngày 16/10/2018 chị Phùng Thị N có đơn xin rút đơn bãi nại và đơn miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Lý Thành N với lý do kể từ khi Lý Thành N nhận được đơn bãi nại và đơn không yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự của gia đình nạn nhân Vương Văn S thì không quan tâm, không đến hỏi thăm cũng như động viên gia đình nạn nhân. Ngày 10/01/2019 bị cáo Lý Thành N đã tự nguyện nộp số tiền 150.000.000đ vào Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh L để bồi thường khắc phục hậu quả.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lý Xuân P trình bày: Vào tối ngày 25/8/2018 Lý Thành N tự ý lấy xe môtô biển số 49M3-1631 của mình đi chơi rồi gây tai nạn. Anh Phượng không điều động, không giao xe mô tô cho Nam điều khiển. Xe môtô biển số 49M3-1631 anh Phượng đã nhận lại nên không có yêu cầu gì thêm. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ – tỉnh L giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lý Thành N từ 12 đến18 tháng tù.

- Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: áp dụng các Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 591 của Bộ luật dân sự đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo Lý Thành N và Đại diện hợp pháp của bị hại như sau: Bị cáo Lý Thành N phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại tính mạng cho gia đình Vương Văn S số tiền là 150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng) nhưng được trừ vào số tiền là 150.000.000đ ((một trăm năm mười đồng) mà bị cáo Lý Thành N đã tạm nộp để thi hành án theo biên lai thu tiền số AA/2010/07837 ngày 10/01/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đa Huoai - tỉnh L.

- Về vật chứng vụ án:

+ 01 xe mô tô biển số 49M3-1631 là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của anh Lý Xuân Phượng. Xe có giấy tờ đầy đủ, nguồn gốc rõ ràng. Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản này cho anh Phượng theo quy định của pháp luật.

+ 01 xe ô tô biển số: 60B-04834, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc và 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật của xe ô tô biển số: 60B-04834; 01 Giấy biên nhận số 3553/GBN ngày 21/08/2018 của Công ty TNHH MTV cho thuê tài chính Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín là tài sản thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Hà Văn Thịnh. Xe có giấy tờ đầy đủ, nguồn gốc rõ ràng. Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản này cho ông Thịnh theo quy định của pháp luật.

- Về án phí: Buộc bị cáo Lý Thành N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận gì.

Viện kiểm sát không tranh luận gì.

Bị cáo Lý Thành N nói lời sau cùng: “Bị cáo đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt”.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, Đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng cứ xác định tội:

Lời khai nhận của bị cáo Lý Thành N tại phiên tòa hôm nay phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại phiên tòa do đó có căn cứ xác định: Khoảng 23 giờ 00 ngày 25/8/2018, tại Km 86+ 400, Quốc lộ 20 thuộc thôn 1, xã H, huyện Đ, tỉnh L. Lý Thành N không có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe mô tô biển số 49M3 - 1631 đã không giảm tốc độ khi tầm nhìn bị hạn chế, đi sai làn đường dẫn đến việc xe mô tô do Nam điều khiển đã va chạm với xe ô tô biển số 60C - 04834 dẫn tới anh Vương Văn S ngồi phía sau xe mô tô do Nam điều khiển tử vong.

Vụ tai nạn do lỗi trực tiếp của bị cáo Lý Thành N khi điều khiển xe không đi bên phải theo chiều đi của mình, đi không đúng phần đường hoặc làn đường quy định gây thiệt hại đến tính mạng của người khác là vi phạm khoản 1 Điều 09 của Luật giao thông đường bộ, hậu qủa làm một người chết. Bị cáo điều khiển xe môtô khi chưa có giấy phéplái xe; Bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy, hành vi của bị cáo Lý Thành N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự giao thông và an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo điều khiển xe môtô khi chưa được cấp giấy phép lái xe theo quy định, chủ quan, coi thường pháp luật bị cáo đã điều khiển xe môtô đi không đúng phần đường quy định gây thiệt hại đến tính mạng của người khác. Do đó tại phiên tòa hôm nay cần phải có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng răn đe giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm nói chung trong cộng đồng.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay nhận thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi phạm tội bị cáo tạm nộp tiền để khắc phục một phần hậu quả bồi thường cho gia đình bị hại. Tại phiên tòa đại diện hợp pháp của bị hại ông Vương Văn Phú xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy, khi lượng hình cũng cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 54 của Bộ luật hình sự cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng pháp luật của nhà nước.

Trong vụ án này, Anh Lý Xuân P là chủ xe môtô biển số 49M3-1631 mà Lý Thành N đã điều khiển và gây tai nạn. Quá trình điều tra xét thấy anh P không điều động, không giao xe mô tô cho Nam điều khiển, do đó không có căn cứ để xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với anh P là có căn cứ. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

Tại phiên tòa bị cáo Lý Thành N và đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận được việc bồi thường thiệt hại nên áp dụng các Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 591 của Bộ luật dân sự, ghi nhận sự thỏa thuận như sau:

Bị cáo Lý Thành N phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại tính mạng cho gia đình Vương Văn Ssố tiền là 150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng) nhưng được trừ vào số tiền là 150.000.000đ ((một trăm năm mười đồng) mà bị cáo Lý Thành N đã tạm nộp để thi hành án theo biên lai thu tiền số AA/2010/07837 ngày 10/01/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đa Huoai - tỉnh L.

Về vật chứng của vụ án:

+ 01 xe mô tô biển số 49M3-1631 là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của anh Lý Xuân Phượng nên Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản này cho anh Phượng theo quy định của pháp luật vì vậy không xem xét lại.

+ 01 xe ô tô biển số: 60B-04834, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc và 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật của xe ô tô biển số: 60B-04834; 01 Giấy biên nhận số 3553/GBN ngày 21/08/2018 của Công ty TNHH MTV cho thuê tài chính Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín là tài sản thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Hà Văn Thịnh nên Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản này cho ông Thịnh theo quy định của pháp luật vì vậy không xem xét lại.

Về án phí:

Buộc bị cáo Lý Thành N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm của vụ án là 200.000đ (hai trăm ngàn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lý Thành N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lý Thành N 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

2. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

Áp dụng các Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 591 của Bộ luật dân sự, ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo Lý Thành N và đại diện hợp pháp của bị hại như sau:

Bị cáo Lý Thành N phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại tính mạng cho gia đình Vương Văn Ssố tiền là 150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng) nhưng được trừ vào số tiền 150.000.000đ ((một trăm năm mưươi triệu đồng) mà bị cáo Lý Thành N đã tạm nộp để thi hành án theo biên lai thu tiền số AA/2010/07837 ngày 10/01/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đa Huoai - tỉnh L.

3. Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thuờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lý Thành N phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, Đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình lên Tòa án nhân dân tỉnh L trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh L;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh L;

- VKSND, Công an huyện Đ;

- Bị cáo;

- Đại diện hợp pháp của Bị hại;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;

- Lưu THA.

Nguyễn Thị Hà Giang

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Hà Thành – Cao Anh Tuấn

Đinh Xuân Trường CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Văn Dũng Trịnh Hữu Vĩnh

Nguyễn Thị Hà Giang

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND tỉnh L;

- VKSND tỉnh L;

- VKSND, Công an huyện Đ;

- Bị cáo;

- Bị hại;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;

- Lưu THA.

Đinh Xuân Trường

Cỡ chữ